vanban.org

Bản án 02/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phạm Thị G và ông Phạm Văn Q.

Về nuôi con chung: Giao con chung tên Phạm Thị Ngọc Á, sinh ngày 17/12/2008 cho bà Phạm Thị G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Phạm Văn Q không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị G- Phạm Văn Q "Ly hôn""
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phạm Thị G và ông Phạm Văn Q.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH LONG AN
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 15-01-2024
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con
chung khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ái Duy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đinh Ngọc Minh

2. Bà Nguyễn Thị Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Quê, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An.

Ngày 15 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 239/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 146/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị G, sinh năm: 1972. Địa chỉ: Số A, ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Long An, vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Phạm Văn Q, sinh năm: 1968. Địa chỉ: Số D, ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Long An, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 12 tháng 9 năm 2023 và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn bà Phạm Thị G trình bày:

Bà và ông Phạm Văn Q chung sống với nhau vào năm 1999 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Long An vào ngày 24/8/2005.

Sau ngày cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian khoảng 18 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã nhau nên cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc và hiện vợ chồng đã không còn chung sống với nhau từ tháng 02/2023 đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà xin được ly hôn với ông Phạm Văn Q.

Về nuôi con chung: Bà và ông Q có với nhau ba người con chung tên là Phạm Thanh P sinh năm 1999, Phạm Thị Ngọc A sinh năm 2004 và Phạm Thị Ngọc Á, sinh ngày 17/12/2008, hiện các con chung đang sống cùng bà. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Ngọc Á, bà không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con chung. Riêng con chung tên Thanh P và Ngọc A đã trưởng thành, sống tự lập được nên không yêu cầu giải quyết việc nuôi dưỡng.

Về tài sản chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà cam kết không có nợ chung.

Ông Phạm Văn Q là bị đơn trình bày tại biên bản hòa giải ngày 08/12/2023: Ông không đồng ý ly hôn với bà G vì ông còn thương vợ, ông mong muốn được hàn gắn tình cảm vợ chồng để vợ chồng cùng nhau chăm sóc con chung nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Về nuôi con chung: Bà và ông Q có với nhau ba người con chung tên là Phạm Thanh P sinh năm 1999 và Phạm Thị Ngọc A sinh năm 2004 và Phạm Thị Ngọc Á, sinh ngày 17/12/2008. Trước yêu cầu nuôi con của bà G, ông không có ý kiến, các con đã lớn có quyền quyết định sống với ai.

Về tài sản chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Ông cam kết không có nợ chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Bà Phạm Thị G có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Phạm Văn Q, việc tranh chấp được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông Q cư trú tại huyện C, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An thụ lý giải quyết là đúng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục xét xử vắng mặt đương sự: Bà G và ông Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, bà G và ông Q có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị G và ông Phạm Văn Q tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại xã T, huyện C, tỉnh Long An vào ngày 24/8/2005 nên quan hệ hôn nhân giữa bà G và ông Q là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình giải quyết vụ án, bà G giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông Q vì cho rằng quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã nhau nên cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Ông Q không đồng ý ly hôn vì còn thương vợ nhưng ông Q không có biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng, hiện vợ chồng đã không còn chung sống với nhau từ tháng 02/2023 đến nay.

Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà G và ông Q đã phát sinh mâu thuẫn, nhưng bà G không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà G yêu cầu ly hôn với ông Q là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà G.

Về nuôi con chung: Bà G và ông Q có với nhau ba người con chung tên là Phạm Thanh P sinh năm 1999 và Phạm Thị Ngọc A sinh năm 2004 và Phạm Thị Ngọc Á, sinh ngày 17/12/2008.

Hiện con chung tên Thanh P và Ngọc A đã trưởng thành, sống tự lập được, đương sự không yêu cầu giải quyết việc nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Riêng con chung tên Ngọc Á, bà G yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, ông Q không có ý kiến và tôn trọng sự lựa chọn của con. Để không ảnh hưởng đến cuộc sống, học tập và đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung cũng như nguyện vọng của con chung mong muốn được sống cùng với mẹ nên cần giao con chung cho bà G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.

Ông Q không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Đương sự cam kết không có nợ chung.

Về án phí: Nguyên đơn bà G phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phạm Thị G và ông Phạm Văn Q.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung tên Phạm Thị Ngọc Á, sinh ngày 17/12/2008 cho bà Phạm Thị G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Ông Phạm Văn Q không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con chung, các đương sự được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Bà Phạm Thị G phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003677 ngày 02 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Long An.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo bản án 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

5. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ