vanban.org

Bản án 02/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

TAND tỉnh Bình Thuận;

VKSND tỉnh Bình Thuận; VKSND huyện Bắc Bình; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Ngọc Anh T"
  • Tòa quyết gì? TAND tỉnh Bình Thuận;
  • Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẮC BÌNH
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 01- 02 - 2024
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi
con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Xuân Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Táo Thị Mộng Quyên, ông Huỳnh Công Bằng.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Mai Thị Chiêm Vân, Thư ký Toà án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Thủy – Kiểm sát viên. Ngày 01 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự về hôn nhân gia đình thụ lý số 403/2023/TLST-HNGĐ, ngày 21 tháng 11 năm 2023 về việc: “tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/01/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc Anh T, sinh năm 1996 (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp A, xã L, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Đinh Thanh H, sinh năm 1993 (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn A, xã B, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc Anh T trình bày: Chị Nguyễn Ngọc Anh T và anh Nguyễn Đinh Thanh Huy tự nguyện tìm hiểu yêu thương chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Bình Thuận vào ngày 13/8/2020. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2022 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không cùng quan điểm sống, anh H không chăm lo cuộc sống gia đình nên thường xảy ra xung đột, bất hòa, làm ảnh hưởng đến sức khỏe, công việc làm ăn của chị. Do mâu thuẫn trầm trọng nên vợ chồng chị T, anh H đã sống ly thân từ ngày 09/9/2023 đến nay, mạnh ai nấy sống. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, hạnh phúc hôn nhân không thể duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Đinh Thanh H.

- Về con chung: Chị T và anh H có một con chung là Nguyễn Đinh Thiên K, sinh ngày 29/8/2022. Sau khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị T khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Đinh Thanh H trình bày: Anh không có ý định ly hôn với chị T, đây chỉ là yêu cầu ly hôn từ một bên nên anh không đồng ý vì hiện con anh còn quá nhỏ nên cần sự yêu thương của cả bố và mẹ. Trong mâu thuẫn vợ chồng anh có thể sửa sai không nghiêm trọng để ly hôn ảnh hưởng đến con cái sau này. Đồng thời anh không muốn con mình sau này bị tổn thương khi anh ly hôn mà con chưa tròn 2 tuổi. Nếu chị T đã nhất quyết ly hôn thì anh đồng ý yêu cầu ly hôn của chị T.

Về con chung: Anh H và chị T có một con chung là Nguyễn Đinh Thiên K, sinh ngày 29/8/2022, anh đồng ý để chị T trực tiếp nuôi dưỡng và anh không cấp dưỡng theo yêu cầu của chị T. Tuy nhiên, anh vẫn chu cấp cho con phù hợp với thu nhập của bản thân và mong muốn được đảm bảo quyền thăm nom của anh và gia đình đối với con.

- Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Đối với Thẩm phán từ khi thụ lý đến khi xét xử thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định. Hội đồng xét xử đúng như quyết định đưa vụ án ra xét xử, Hội đồng xét xử thể hiện sự vô tư khách quan khi xét xử; nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ tại hồ sơ thể hiện mâu thuẫn giữa chị T và anh H đã thật sự trầm trọng, anh H và chị T không thương yêu, chia sẻ giúp đỡ chăm sóc cho nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn chung sống với nhau từ tháng 9 năm 2023 đến nay. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTV14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc Anh T về việc ly hôn với anh Nguyễn Đinh Thanh H. Giao con chung tên Nguyễn Đinh Thiên K, sinh ngày 29/8/2022 cho chị Nguyễn Ngọc A Thư chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: đương sự không yêu cầu nên không xem xét. Về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Ngọc Anh T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Đinh Thanh H, anh H có hộ khẩu thường trú tại huyện B, tỉnh Bình Thuận nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Ngọc Anh T và anh Nguyễn Đinh Thanh H có đăng kí kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 44 ngày 13/8/2020 tại UBND xã B, huyện B, tỉnh Bình Thuận nên quan hệ hôn nhân của chị T và anh H là hợp pháp.

Về sự vắng mặt của nguyên đơn Nguyễn Ngọc Anh T và bị đơn anh Nguyễn Đinh Thanh H: Trong quá trình giải quyết vụ án chị T, anh H đều có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ vào điểm a, điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

2. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Theo chị Nguyễn Ngọc Anh T trình bày trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không có sự chia sẻ, giúp đỡ nhau trong cuộc sống anh Nguyễn Đinh Thanh H không có trách nhiệm với gia đình, không chia sẻ giúp đỡ chị T trong cuộc sống từ đó làm cho cuộc sống hôn nhân trở nên không hạnh phúc, vợ chồng không có sự hòa hợp, thường xuyên xảy ra sự bất đồng về quan điểm trong cuộc sống nên từ tháng 9 năm 2023 chị T, anh H đã sống ly thân từ đó cho đến nay, mạnh ai nấy sống. Nay chị T xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh H, vợ chồng không thể hàn gắn được nữa, chị yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Nguyễn Đinh Thanh H. Hội đồng xét xử thấy rằng: Luật Hôn nhân và Gia đình quy định vợ chồng thì phải biết thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau cùng xây dựng gia đình hạnh phúc đồng thời phải biết tôn trọng, giữ gìn danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau, phải có nghĩa vụ chung sống với nhau nhưng thực tế cuộc sống hôn nhân của chị T, anh H không còn hạnh phúc, anh chị không còn quan tâm, tôn trọng, tin tưởng, giúp đỡ nhau nên hạnh phúc gia đình ngày rạn nứt, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, không ai còn quan tâm đến ai và thực tế anh chị đã tự sống xa nhau từ tháng 9 năm 2023 đến nay, điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân của anh chị không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặc dù, mâu thuẫn vợ chồng đã xảy ra một thời gian dài nhưng vợ chồng chị T, anh H không ai có thiện chí hòa giải đoàn tụ nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã tạo điều kiện triệu tập anh H đến hòa giải để anh chị hàn gắn tình cảm, nhưng anh H không đến Tòa, như vậy anh H đã tự khước từ việc hòa giải nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải được. Điều này chứng tỏ anh H không muốn hòa giải để hàn gắn tình cảm với chị T. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi và nhằm ổn định cuộc sống cho các bên, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Ngọc Anh T.

Về con chung: Chị Nguyễn Ngọc Anh T và anh Nguyễn Đinh Thanh H có 01 con chung tên Nguyễn Đinh Thiên K, sinh ngày 29/8/2022, chị T yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, con chung Nguyễn Đinh Thiên K, sinh ngày 29/8/2022 hiện đang được chị T chăm sóc, nuôi dưỡng và dưới 36 tháng rất cần sự chăm sóc của người mẹ, do đó để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của con chung, đảm bảo sự phát triển ổn định, toàn diện cho con chung tiếp tục giao con chung tên Nguyễn Đinh Thiên K, sinh ngày 29/8/2022 cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Anh Nguyễn Đinh Thanh H được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không bị ai được cản trở.

Về mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng: Trong đơn khởi kiện chị T có yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án chị đã thay đổi yêu cầu theo đó chị T không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, dù đã được giải thích về quyền yêu cầu cấp dưỡng nhưng chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Ngọc Anh T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Xét ý kiến trình bày của các đương sự, cũng như quan điểm đề nghị tại Tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận về việc chấp nhận yêu cầu xin ly hôn, con chung, tài sản chung và nợ chung là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì chị Nguyễn Ngọc Anh T phải chịu 300.000 đồng án phí về việc yêu cầu xin ly hôn. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 9, Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc Anh T. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Ngọc Anh T được ly hôn với anh Nguyễn Đinh Thanh H. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Đinh Thiên K, sinh ngày 29/8/2022 cho chị Nguyễn Ngọc A Thư trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Ngọc Anh T không yêu cầu anh Nguyễn Đinh Thanh H cấp dưỡng nuôi con. Anh Nguyễn Đinh Thanh H và chị Nguyễn Ngọc Anh T có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Anh Nguyễn Đinh Thanh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom ai được cản trở Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Ngọc Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Về án phí: Chị Nguyễn Ngọc Anh T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã đóng là 300.000 đồng theo biên lai số 0001472 ngày 21/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Bình, chị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Anh Nguyễn Đinh Thanh H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Quyền kháng cáo của các đương sự là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ