- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng vay"
- Tòa quyết gì? Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ đối với các khoản tiền phải trả, thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân s…
- Căn cứ chính? Điều 463 Bộ luật Dân sự; Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 470 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN H.HÒA VANG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Bản án số 02/2024/DSST Ngày 25/01/2024 V/v“Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Hồng Hải
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Cao Văn Truyện
Ông Ngô Hồng Khánh
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Lê Mai Ly - Thư ký TAND huyện Hòa Vang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nghiệp – Kiểm sát viên.
Ngày 25/01/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 200/2023/TLST-DSST ngày 07/11/2023 về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2023/QĐXXST-DS ngày 28/12/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2024/QĐST-DS ngày 12/01/2024, giữa:
* Nguyên đơn: Ông Trần Công C, sinh năm 1968. Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Q. Có mặt
* Bị đơn: Ông Trần Công T, sinh năm 1990. Địa chỉ: Tổ 01, thôn G, xã H, huyện H, thành phố Đ. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn – ông Trần Công C trình bày: Vào ngày 8/5/2018, ông Trần Công T có mượn ông Trần Công C số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), hẹn ngày 08/6/2018 sẽ trả nhưng không trả. Ngày 18/6/2018, ông Trần Công T tiếp tục mượn thêm số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), hẹn ngày 18/7/2018 sẽ trả nhưng đến nay vẫn không trả. Ông Trần Công C đòi nhiều lần thì ông Trần Công T mới trả được số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng). Các lần mượn tiền ông Trần Công T đều viết giấy mượn tiền. Ông Trần Công C xác định số tiền ông T còn nợ chưa trả là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Vì vậy ông Trần Công C khởi kiện Tòa án xem xét giải quyết buộc ông Trần Công T có nghĩa vụ số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) và không yêu cầu tính lãi.
* Đối với bị đơn – Ông Trần Công T: Mặc dù đã được Tòa án tiến hành tống
đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để ông T trình bày ý kiến, tuy nhiên ông T vẫn vắng mặt không có lý do nên không có lời khai.
Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Trần Công C vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Tại phiên tòa, bị đơn ông Trần Công T vắng mặt lần thứ 2 nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng: Những người tham gia tố tụng đã được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” của ông Trần Công C đối với ông Trần Công T. Buộc ông Trần Công T phải trả cho ông Trần Công C số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Do ông C không yêu cầu tính lãi nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết qủa tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Theo đơn khởi kiện của ông Trần Công C nộp tại Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng và Tòa án đã thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại Điều 26; Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Vào ngày 8/5/2018, ông Trần Công T có viết giấy mượn ông Trần Công C số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), hẹn ngày 08/6/2018 sẽ trả nhưng không trả. Ngày 18/6/2018, ông Trần Công T tiếp tục viết giấy mượn thêm số tiền 10.000.000 đồng, tổng cộng là 15.000.000 đồng và hẹn ngày 18/7/2018 sẽ trả vẫn không trả. Đến hẹn ông Ông Trần Công C đòi nhiều lần thì ông Trần Công T mới trả được số tiền 5.000.000 đồng, ông T không có thiện chí trả nợ cho ông C. Ông Trần Công C xác định số tiền hiện tại ông T còn nợ chưa trả là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Vì vậy ông Trần Công C khởi kiện Tòa án xem xét giải quyết buộc ông Trần Công T có nghĩa vụ trả số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) và không yêu cầu tính lãi.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Trần Công C thì thấy:
Vào ngày 8/5/2018, ông Trần Công T có mượn ông Trần Công C số tiền 5.000.000 đồng, hẹn ngày 08/6/2018 sẽ trả nhưng không trả, đến ngày 18/6/2018, ông Trần Công T tiếp tục mượn thêm ông Trần Công C số tiền 10.000.000 đồng, hẹn ngày 18/7/2018 sẽ trả nhưng vẫn không trả số tiền trên. Ông C đòi nhiều lần thì ông T mới trả số tiền 5.000.000 đồng và còn nợ lại số tiền là 10.000.000 đồng đến nay vẫn chưa trả. Vì vậy ông Trần Công C yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết buộc ông Trần Công T có nghĩa vụ trả nợ số tiền 10.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi.
Với chứng cứ mà nguyên đơn xuất trình là giấy mượn tiền của ông Trần Công T. HĐXX xét thấy số tiền ông Trần Công T nợ ông Trần Công C đã lâu nhưng ông T không có thiện chí trả nợ dứt điểm cho ông C, mặc dù ông C đã nhiều lần yêu cầu trả nợ nhưng ông T vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, chây ì và dây dưa kéo dài. Vì vậy, việc ông C yêu cầu ông T trả nợ là hoàn toàn chính đáng và phù hợp, có căn cứ nên HĐXX cần chấp nhận. Do ông C không có yêu cầu tính lãi nên HĐXX đề cập giải quyết.
Đối với bị đơn – ông Trần Công T: Trong suốt quá trình Tòa án thụ lý giải quyết cũng như tại phiên tòa ông Trần Công T được Tòa án triệu tập, tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa để ông Trần Công T trình bày ý kiến cũng như tham gia tố tụng tại phiên tòa, tuy nhiên ông Trần Công T vẫn vắng mặt không có lý do nên không có lời khai, điều đó cũng thể hiện ông Trần Công T thiếu thiện chí trả nợ cho ông C nên cần buộc ông Trần Công T phải có nghĩa vụ trả nợ 10.000.000 đồng cho ông C là phù hợp với quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang tại phiên tòa là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận.
Án phí dân sự sơ thẩm ông Trần Công T phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 463, 466, 470 Bộ luật dân sự. Các Điều 147, 227, 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” của nguyên đơn ông Trần Công C đối với bị đơn ông Trần Công T. Xử: Buộc ông Trần Công T phải có nghĩa vụ trả cho ông Trần Công C số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ đối với các khoản tiền phải trả, thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền.
Án phí dân sự sơ thẩm 500.000 đồng ông Trần Công T phải chịu.
Hoàn trả lại cho ông Trần Công C số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000578 ngày 06/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết tại nơi cư trú.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự
| Nơi nhận: - Các đương sự (theo địa chỉ); - VKSND h. Hòa Vang; - Chi cục THADS h. Hòa Vang; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu DS (Đức). | TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Hồng Hải |