vanban.org

Bản án 02/2023/KDTM-ST — Tranh chấp về mua bán hàng hóa

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty CP Đầu tư T đối với Công ty TNHH MTV X.

Buộc Công ty TNHH MTV X phải thanh toán cho Công ty CP Đầu tư T số tiền gốc 112.222.500 đồng (một trăm mười hai triệu hai trăm hai mươi hai nghìn năm trăm đồng). Theo Hợp đồng kinh tế số 31/2021/HĐKT ngày 01/01/2021 và phụ lục hợp đồng số 01 ngày 05/05/2021 được ký kết giữa hai bên. Kể từ ngày tiếp … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Hoàng Trọng Đ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty CP Đầu tư T đối với Công ty TNHH MTV X.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 Luật Thương mại
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LÀO CAI
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2023/KDTM-ST
Ngày 07 tháng 6 năm 2023
V/v “Tranh chấp hợp đồng
mua bán hàng hóa”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Vũ Thị Lan Hương

2. Ông Nguyễn Kim Minh.

Thư ký phiên toà: Bà Nông Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai: Bà Hoàng Thị Hiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 07/6/2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 03/2023/TLST-KDTM ngày 05 tháng 01 năm 2023 về việc: "Tranh chấp hợp đồng mua bán” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2023/QĐST-KDTM ngày27/02/2023 theo quyết hoãn phiên tòa số: 03/2023/QĐHPT ngày 21/3/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty Cổ phần đầu tư T

Địa chỉ: Số 064, Kim Sơn, phường B, thành phố L, tỉnh L

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Trọng Đ - Chủ tịch Hội đồng quản trị. Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị Thu Tr

Địa chỉ: Số 242, đường Điện Biên, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Có mặt.

Bị đơn: Công ty TNHH MTV X

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Mạnh H - Giám đốc

Địa chỉ: Nhà ông Hà Đức Tín, đường Quy hoạch hồ số 1, phường K, thành phố L, tỉnh L. (vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do chính đáng)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 08 tháng 12 năm 2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn trình bày:

Theo Hợp đồng kinh tế số: 31/2021/HĐKT ngày 01/01/2021 Công ty CP Đầu tư T cung cấp các loại đá xây dựng cho Công ty TNHH MTV Xây dựng Hùng Nga. Khối lượng hàng được giao theo thực tế, bên A nhận cụ thể từng đợt nhận. Nhận hàng tại mỏ sản xuất, trên phương tiện của bên mua. Thời điểm tính đến ngày 06/6/2022 Công ty TNHH MTV X còn nợ Công ty CP Đầu tư Tân Hoàng Long: Số tiền là: 142.222.500 đồng ngày 28/06/2022 đã thanh toán còn nợ gốc 112.222.500 đồng (một trăm mười hai triệu hai trăm hai mươi hai nghìn năm trăm đồng chẵn). Có biên bản xác nhận công nợ ngày 06/12/2022.

Công ty CP Đầu tư T đã nhiều lần cử cán bộ đến làm việc đề nghị Công ty TNHH MTV X thanh toán số công nợ trên nhưng Công ty TNHH MTV X không thanh toán. Để đảm bảo quyền lợi, Công ty CP Đầu tư T đề nghị Toà án nhân dân thành phố Lào Cai giải quyết buộc Công ty TNHH MTV X thanh toán cho Công ty CP Đầu tư T số tiền gốc là 112.222.500 đồng (một trăm mười hai triệu hai trăm hai mươi hai nghìn năm trăm đồng chẵn) không tính lãi xuất.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu thanh toán nợ gốc của Công ty CP Đầu tư Tân Hoàng Long: Buộc Công ty TNHH MTV X phải thanh toán toàn bộ phần nợ gốc phát sinh từ Hợp đồng kinh tế số 31/2021/HĐKT ngày 01/01/2021 là: 112.222.500 đồng (một trăm mười hai triệu hai trăm hai mươi hai nghìn năm trăm đồng). Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm; nếu Công ty TNHH MTV X chưa thanh toán xong khoản nợ trên thì yêu Toà án buộc Công ty TNHH MTV X phải trả khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357; Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Bị đơn Công ty TNHH MTV X đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Đại diện VKSND thành phố Lào Cai phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã xác định đúng quan hệ tranh chấp cần giải quyết; xác định đúng tư cách và đầy đủ những người tham gia tố tụng; chấp hành đúng quy định về việc thụ lý vụ án; về thủ tục mở phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải đúng quy định tại các Điều 205; 211 Bộ luật Tố tụng Dân sự; về thời hạn chuẩn bị xét xử; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu đúng quy định tại các Điều 203, 220 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đảm bảo đúng thành phần; phạm vi và nguyên tắc xét xử theo quy định Bộ luật Tố tụng Dân sự. Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án Căn cứ Điều 24; Điều 50; Điều 306 Luật Thương mại; Điều 430; Điều 440 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 147; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2106 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty CP Đầu tư T và buộc Công ty TNHH MTV X thanh toán cho Công ty CP Đầu tư T số nợ 112.222.500 đồng (một trăm mười hai triệu hai trăm hai mươi hai nghìn năm trăm đồng).

Tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, trong vụ án giữa nguyên đơn Công ty CP Đầu tư T và bị đơn Công ty TNHH MTV Xây dựng Hùng Nga, được kí kết và thực hiện năm 2021, Bị đơn Công ty TNHH MTV X có địa chỉ trụ sở theo đăng ký kinh doanh tại phường Bắc Cường, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai.

Việc xét xử vắng mặt Công ty TNHH MTV Xây dựng Hùng Nga, lý do bị đơn Công ty TNHH MTV X đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố Tụng Dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt Công ty TNHH MTV X là có căn cứ.

Về nội dung: Ngày 01/01/2021, Công ty CP Đầu tư T và Công ty TNHH MTV X đã ký Hợp đồng kinh tế số 31/2021/HĐKT ngày 01/01/2021 và phụ lục hợp đồng số 01 ngày 05/05/2021 Công ty CP Đầu tư T cung cấp đá xây dựng cho Công ty TNHH MTV X có trách nhiệm thanh toán cho Công ty CP Đầu tư T khi nhận đủ số hàng tương đương với 100.000.000 đồng, tổng giá tiền hàng trong các ngày từ ngày 10 đến ngày 15 của tháng sau phát sinh. Nếu đến hạn mà không thanh toán thì sẽ được tính lãi sang nợ quá hạn của Ngân hàng BIDV Lào Cai tại cùng thời điểm.

Ngày 06/06/2022, hai bên đã lập biên bản đối chiếu công nợ, với nội dung: Tính đến ngày 06/6/2022 Công ty TNHH MTV X còn nợ Công ty CP Đầu tư T số tiền là 142.222.500 đồng đến ngày 28/06/2022 đã thanh toán còn nợ gốc 112.222.500 đồng (một trăm mười hai triệu hai trăm hai mươi hai nghìn năm trăm đồng). Nhưng Công ty TNHH MTV X không thanh toán cho Công ty CP Đầu tư T số tiền nợ lại như đã thỏa thuận trong hợp đồng nên Công ty CP Đầu tư T yêu cầu Công ty TNHH MTV X thanh toán số nợ gốc nêu trên là có căn cứ theo Điều 24 và 50 Luật kinh doanh Thương mại.

Về yêu cầu thanh toán tiền lãi đối với khoản nợ gốc: Công ty CP Đầu tư T yêu cầu Công ty TNHH MTV X thanh toán lãi suất theo biên bản thỏa thuận ngày 19/9/2022 lãi suất chậm thanh toán theo lãi suất quá hạn của ngân hàng BIDV tại thời điểm phát sinh trên số nợ gốc chưa thanh toán nếu bên mua chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Tại phiên tòa, Công ty CP Đầu tư T không đề nghị Tòa án áp dụng lãi suất do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết phần lãi xuất.

Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của Công ty CP Đầu tư T được hội đồng xét xử chấp nhận nên Công ty CP Đầu tư T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại Công ty CP Đầu tư T khoản tiền án phí đã tạm ứng tại chi cục thi hành án dân sự thành phố Lào Cai. Công ty TNHH MTV X phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 24; 50 và Điều 306 Luật Thương mại; Điều 430; Điều 440 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 147; Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2106 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty CP Đầu tư T đối với Công ty TNHH MTV X.

2. Buộc Công ty TNHH MTV X phải thanh toán cho Công ty CP Đầu tư T số tiền gốc 112.222.500 đồng (một trăm mười hai triệu hai trăm hai mươi hai nghìn năm trăm đồng). Theo Hợp đồng kinh tế số 31/2021/HĐKT ngày 01/01/2021 và phụ lục hợp đồng số 01 ngày 05/05/2021 được ký kết giữa hai bên.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm; Công ty CP Đầu tư T có đơn yêu cầu thi hành án nếu Công ty TNHH MTV X chưa thanh toán xong khoản nợ trên thì còn phải trả khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357; Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí: Buộc Công ty TNHH MTV X phải chịu 5.611.125 đồng (Năm triệu sáu trăm mười một nghìn một trăm hai lăm nghìn đồng) án phí Kinh doanh Thương mại sơ thẩm.

Công ty CP Đầu tư T được hoàn lại 3.000.000 (ba triệu đồng) số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000006 ngày 05/01/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lào Cai.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7 a, 9 Luật thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự”.

Cỡ chữ