vanban.org

Bản án 02/2023/KDTM-ST — Tranh chấp về đầu tư tài chính, ngân hàng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng VIB về việc Tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông Nguyễn Minh Th

1-Buộc ông Nguyễn Minh Th thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam(Ngân hàng VIB) số tiền nợ của Hợp đồng tín dụng số 5570033.19 ngày 04/11/2019 tính đến ngày 25/5/2023 là 380.168.581đ(Ba trăm tám mươi triệu, một trăm sáu mươi tám ngàn, năm trăm tám mươi mốt đồng). Trong đó: Nợ g…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về đầu tư tài chính, ngân hàng — án kinh doanh thương mại — "Ngân hàng VIB kiện Nguyễn Minh Thiện"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng VIB về việc Tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông Nguyễn Minh Th
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BÀ RỊA
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2023/KDTM-ST
Ngày 25-5-2023
V/v: Tranh chấp Hợp đồng
tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BA RỊA, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Anh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Đình Khoa

2. Bà Lê Thị Quỳnh Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Nữ Lệ Chi - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Hằng- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 20/2022/TLST-KDTM ngày 01/11/2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2023/QĐXXST-KDTM ngày 21/4/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2023/QĐST-KDTM ngày 08/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa giữa các đương sự :

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam(Viết tắt là Ngân hàng VIB). Địa chỉ trụ sở chính: Tầng 1,2, Tòa nhà SailingToWer-111A Pasteur, phường Bến Nghé, Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật:Ông Hà Ngọc Vũ- Chức vụ: Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Thu Hà- Chức vụ: Giám đốc Trung tâm quản lý nợ Ngân hàng bán lẻ. Địa chỉ liên hệ: Tầng 6, Tòa nhà Paxsky, số 26 Ung Văn Khiêm, phường 25, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền tham gia phiên tòa: Ông Đinh Trọng Công, sinh năm 1991. Địa chỉ: 17K1, Trịnh Hoài Đức, phường 7, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu - Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ(Văn bản ủy quyền số 073464.22 ngày 15/7/2022). Có mặt

- Bị đơn: Ông Nguyễn Minh Th, sinh năm 1987. Địa chỉ : Tổ 11, khu phố 4, phường Phước Nguyên, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 25-8-2021, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn Ngân hàng VIB, người đại diện ông Đinh Trọng Công trình bày:

Ngân hàng VIB và ông Nguyễn Minh Th có ký hợp đồng tín dụng sau: Hợp đồng tín dụng số 5570033.19 ngày 04/11/2019 và Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 5570033 (1).19 ngày 04/11/2019 với các nội dung chính sau: Số tiền vay là 274.000.000đ. Thời hạn vay 72 tháng, từ 19/11/2019 đến 18/11/2025. Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 9.9%/năm, đây là lãi suất ưu đãi áp dụng trong 12 tháng đầu tiên, hết thời hạn ưu đã nêu trên lãi suất được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng thêm biên độ 4,1%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Ngày giải ngân là 18/11/2019, ngày đến hạn là 18/11/2025. Số tiền đã giải ngân là 274.000.000đ. Mục đích: Mua xe ô tô hiệu Kia, biển số 72C-156.02. Thanh toán gốc, lãi: Trả gốc lãi vào ngày 18 hàng tháng, kỳ trả đầu tiên là 18/12/2019, mỗi kỳ trả 3.806.000đ, số còn lại trả vào cuối kỳ.Trả phí theo quy định của VIB từng thời kỳ.

Ngân hàng đã giải ngân cho ông Th vào ngày 18/11/2019 số tiền 274.000.000đ theo đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ ngày 04/11/2019.

Đảm bảo khoản vay ông Th có thế chấp cho ngân hàng chiếc xe ô tô nhãn hiệu Kia, biển số 72C-156.02. Ông Nguyễn Minh Th đã thanh toán cho ngân hàng tiền gốc và lãi đến ngày 17/8/2021 được:41.867.773đ trong đó nợ gốc là 26.692.000đ,tiền lãi 15.175.773đ.Ngày 18/7/2020 là ngày ông Nguyễn Minh Th vi phạm, từ ngày vi phạm đến nay ông Th không thanh toán thêm được tiền gốc, tiền lãi.Tính đến ngày 17/8/2021 ông Nguyễn Minh Th còn nợ là 292.434.189đ, trong đó nợ gốc là 247.308.000đ, tiền lãi trong hạn là 12.950.706đ, tiền lãi quá hạn là 32.175.483đ. Đã nhiều lần nhắc nhở nhưng ông Th không có Th chí trả nợ. Do ông Th vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Ngân hàng chuyển toàn bộ nợ sang nợ quá hạn.

Do đó, ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

1- Ông Nguyễn Minh Th phải thanh toán toàn bộ tiền nợ gốc, nợ lãi quá hạn và các khoản phát sinh liên quan đến các hợp đồng tín dụng Hợp đồng tín dụng số 5570033.19 ngày 04/11/2019 tính đến ngày 17/8/2021 là: 292.434.189đ, trong đó nợ gốc là 247.308.000đ, tiền lãi trong hạn là 12.950.706đ, tiền lãi quá hạn là 32.175.483đ.

2- Ông Nguyễn Minh Th phải tiếp tục trả lãi theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nêu trên, kể từ ngày 18/8/2021 cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng VIB.

Đối với tài sản bảo đảm là xe ô tô hiệu Kia, biển số 72C-156.02. Ngân hàng VIB không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này. Nếu có tranh chấp Ngân hàng sẽ yêu cầu giải quyết bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.

* Bị đơn: Ông Nguyễn Minh Th đ ã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến tòa làm việc, không có văn bản ý kiến.

* Tại phiên tòa: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, xác định yêu cầu số tiền nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm và yêu cầu ông Nguyễn Minh Th phải thanh toán là: Tổng cộng: 380.168.581đ, trong đó: nợ gốc: 247.308.000đ; Nợ lãi trong hạn; 13.341.356; lãi quá hạn 116.083.252đ, phạt chậm trả: 3.435.973đ.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa. Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ các Điều 116,117,429,463, 466,468, 470 Bộ luật Dân sự 2015; các Điều 91,95 Luật các tổ chức tín dụng, đề nghị tòa án xét xử theo hướng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải thanh toán số tiền nợ gốc và tiền nợ lãi tính đến ngày 25/5/2023 với tổng số tiền là 380.168.581đ và tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng VIB khởi kiện về tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn ông Nguyễn Minh Th cư trú tại phường Phước Nguyên, t h à n h p h ố B à R ị a nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa theo quy định tại Điều 30, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Nguyễn Minh Th đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vẫn vắng mặt nên hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn thanh toán khoản nợ gốc, lãi: Hợp đồng tín dụng số 5570033.19 ngày 04/11/2019 và Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 5570033 (1).19 ngày 04/11/2019 được các bên tự nguyện ký kết, có hình thức và nội dung phù hợp Điều 117 Bộ luật dân sự nên có hiệu lực thi hành đối với các bên.

Theo hợp đồng và khế ước nhận nợ, ông Nguyễn Minh Th có vay của Ngân hàng số tiền 274.000.000đ đã được giải ngân ngày 18/11/2019 số tiền 274.000.000đ. Ông Nguyễn Minh Th đã thanh toán cho ngân hàng tiền gốc và lãi đến ngày 17/8/2021 là 41.867.773đ, trong đó nợ gốc là 26.692.000đ, tiền lãi 15.175.773đ. Do ông Nguyễn Minh Th vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng thu hồi nợ trước hạn đối với khoản nợ gốc còn lại chưa thanh toán là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng.

Ông Nguyễn Minh Th là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa vẫn vắng mặt, cho thấy ông Nguyễn Minh Th đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ chứng minh đã thanh toán khoản nợ gốc còn lại cho nguyên đơn. Vì vậy, Ngân hàng buộc ông Nguyễn Minh Th trả số tiền nợ gốc tính đến 25/5/2023 là 247.308.000đ là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng và các Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.

Về yêu cầu thanh toán tiền lãi: Do ông Nguyễn Minh Th vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên phải trả khoản lãi chậm thanh toán tính đến hết ngày 25/5/2023 là 132.860.581 trong đó: lãi trong hạn là 13.341.356, lãi quá hạn là 116.083.252đ, phạt chậm trả là 3.435.973đ. Yêu cầu trả lãi phù hợp với thỏa thuận tại tiểu mục 1.4 mục 1 của Hợp đồng tín dụng số 5570033.19 ngày 04/11/2019 và Khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 nên được chấp nhận.

Như vậy, tổng cộng tiền gốc và lãi ông Th phải thanh toán cho ngân hàng đến hết ngày 17/8/2021 là 292.434.189đ và tính đến ngày xét xử sơ thẩm 25/5/2023 là 380.168.581đ, trong đó nợ gốc là 247.308.000đ, nợ lãi trong hạn là 13.341.356, lãi quá hạn là 116.083.252đ, phạt chậm trả là 3.435.973đ.

Ông Nguyễn Minh Th còn phải trả thêm khoản lãi phát sinh từ ngày 26/5/2023 đến ngày thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng nêu trên.

Đối với tài sản bảo đảm là xe ô tô hiệu Kia, biển số 72C-156.02 Ngân hàng không yêu cầu giải quyết, đây là quyền tự định đoạt của Ngân hàng, bị đơn không có ý kiến, yêu cầu giải quyết. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng vụ án khác (nếu có tranh chấp) theo quy định của pháp luật.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Nguyễn Minh Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 19.008.400đ

- Ngân hàng VIB không phải chịu án phí, hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng VIB.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ các Điều 30, Điều 35, Điều 39,Điều 147 và Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự

- Căn cứ Điều 116,117,429,463, 466,468, 470 Bộ luật dân sự

- Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng 2010

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng VIB về việc Tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông Nguyễn Minh Th

1-Buộc ông Nguyễn Minh Th thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam(Ngân hàng VIB) số tiền nợ của Hợp đồng tín dụng số 5570033.19 ngày 04/11/2019 tính đến ngày 25/5/2023 là 380.168.581đ(Ba trăm tám mươi triệu, một trăm sáu mươi tám ngàn, năm trăm tám mươi mốt đồng). Trong đó: Nợ gốc là 247.308.000đ; Nợ lãi trong hạn là 13.341.356; lãi quá hạn 116.083.252đ; phạt chậm trả: 3.435.973đ.

Ông Nguyễn Minh Th còn phải trả thêm khoản lãi phát sinh từ ngày 26/5/2023 đến ngày thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 5570033.19 ngày 04/11/2019.

2 -Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Buộc ông Nguyễn Minh Th phải nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm là: 19.008.400đ(Mười chín triệu, không trăm lẻ tám ngàn, bốn trăm đồng).

- Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam 7.310.000đ (Bảy triệu, ba trăm mười ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp theo biên lai thu số 0004883 ngày 25/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa.

3 - Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (bị đơn vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ