- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng N"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N đối với ông Nguyễn Q, bà Trần Thị T về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng".
- Căn cứ chính? Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN Q.HẢI CHÂU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2023/KDTM-ST Ngày: 10/3/2023 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Hữu
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Công Lương
Ông Phạm Xoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lành - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Hiếu – Kiểm sát viên
Ngày 10.3.2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 218/2022/TLST- DS ngày 17 tháng 10 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/QĐXXST-DS ngày 02/02/2023 và quyết định hoãn phiên tòa ngày 20/02/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N. Địa chỉ trụ sở: 02 H, phường T, quận B, TP. Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn N, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng N– Chi nhánh K. Người đại diện theo ủy quyền của ông N: Ông P, chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng N– Chi nhánh K. Cùng địa chỉ: 542 Ô, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng (Giấy ủy quyền số 102/GUQ-OIK ngày 09/3/2023). Ông P có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Q, sinh năm 1968 và bà Trần Thị T, sinh năm 1969. Cùng địa chỉ: 59 H, tổ 85 phường C, quận H, thành phố Đà Nẵng. Địa chỉ liên lạc: Số 29 đường A, phường M, quận N, TP. Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, trong quá trình tố tụng, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 23 tháng 12 năm 2020, ông Nguyễn Q và bà Trần Thị T có vay vốn tại Ngân hàng N– Chi nhánh K (viết tắt là Agribank Chi nhánh K) theo Hợp đồng tín dụng số: 2007LAV202000419 cụ thể như sau:
1.1. Giấy nhận nợ lần 1 số 2007LDS202100699 ngày 25 tháng 11 năm 2021, (Ông) Nguyễn Q và (Bà) Trần Thị T có nhận nợ vay tại Agribank Chi nhánh K với số tiền là 3.660.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba tỷ sáu trăm sáu mươi triệu đồng chẵn).
+ Thời hạn cho vay 11 tháng, ngày trả nợ cuối cùng: 25/10/2022
+ Kỳ hạn trả lãi: 3 tháng 1 lần
+ Lãi suất cho vay: 8,5%/năm.
1.2. Giấy nhận nợ lần 2 số 2007LDS202100709 ngày 30 tháng 11 năm 2021, (Ông) Nguyễn Q và (Bà) Trần Thị Th có nhận nợ vay tại Agribank Chi nhánh K với số tiền là 4.340.000.000 đồng (Bằng chữ: Bốn tỷ ba trăm bốn mươi triệu đồng chẵn).
+ Thời hạn cho vay 11 tháng, ngày trả nợ cuối cùng: 30/10/2022
+ Kỳ hạn trả lãi: 3 tháng 1 lần
+ Lãi suất cho vay: 8,5%/năm.
+ Mục đích vay vốn: Bổ sung vốn lưu động kinh doanh mua bán cát sạn và các chi phí khác trong năm.
+ Phương thức cho vay: cho vay theo hạn mức tín dụng
+ Thời hạn hạn mức tín dụng: 12 tháng, kể từ ngày ký kết hợp đồng.
+ Hình thức bảo đảm: Thế chấp tài sản theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 2007-LCL-202000372 ngày 23/12/2020.
Tài sản thế chấp là Nhà ở và đất ở có địa chỉ tại: Lô 9B1-29 Khu dân cư số 04 N, Phường C, Quận H, Thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AK 548418 (số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H 11748), do UBND Quận Hải Châu – Thành phố Đà Nẵng cấp ngày 03/10/2007 đứng tên ông Nguyễn Q và bà Trần Thị T, được Văn phòng công chứng N công chứng ngày 23/12/2020 và đăng ký giao dịch đảm bảo tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại quận H– Thành phố Đà Nẵng ngày 23/12/2020.
Sau khi ký kết hợp đồng vay, đến kỳ trả nợ ngày 01/03/2022, ông Nguyễn Q và bà Trần Thị T đã không trả nợ lãi theo đúng kỳ hạn đã cam kết, tổng cộng số tiền gốc, lãi và tiền lãi chậm trả tạm tính đến ngày 10/03/2023 theo Giấy nhận nợ lần 1 số 2007LDS202100699 ngày 25 tháng 11 năm 2021 là 4.139.741.536 đồng (Bằng chữ: Bốn tỷ một trăm ba mươi chín triệu, bảy trăm bốn mươi mốt ngàn năm trăm ba mươi sáu đồng chẵn). Trong đó:
Số tiền gốc
: 3.660.000.000 đồng.
Số tiền lãi
: 401.446.849 đồng.
Số tiền lãi chậm trả :
59.705.046 đồng
Theo Giấy nhận nợ lần 2 số 2007LDS202100709 ngày 30 tháng 11 năm 2021 tổng cộng số tiền gốc, lãi và tiền lãi chậm trả tạm tính đến ngày 10/03/2023 là 4.900.348.924 đồng (Bằng chữ: Bốn tỷ, chín trăm triệu, ba trăm bốn mươi tám ngàn, chín trăm hai mươi bốn đồng). Trong đó:
Số tiền gốc
: 4.340.000.000 đồng.
Số tiền lãi
: 470.979.178 đồng.
Số tiền lãi chậm trả :
89.369.746 đồng.
Tổng số tiền gốc và lãi phải trả tạm tính đến ngày 10/03/2023 của 02 giấy nhận nợ là: 9.040.090.460 đồng (Bằng chữ: Chín tỷ không trăm bốn mươi triệu, không trăm chín mươi nghìn, bốn trăm sáu mươi đồng).
Mặc dù từ ngày quá hạn đến nay, Agribank Chi nhánh K đã nhiều lần điện thoại liên lạc và cán bộ trực tiếp đến nhà làm việc nhằm đôn đốc thu hồi nợ cũng như bản thân ông Nguyễn Q và bà Trần Thị T đã nhiều lần cam kết trả nợ nhưng đến nay vẫn cố tình dây dưa, chây ỳ không chịu trả nợ cho Ngân hàng.
Vì vậy ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Q và bà Trần Thị Thùy T phải trả nợ cho Agribank Chi nhánh K tổng số tiền gốc, lãi và lãi chậm trả tạm tính đến ngày 10/03/2023 là: 9.040.090.460 đồng (Bằng chữ: Chín tỷ không trăm bốn mươi triệu không trăm chín mươi nghìn bốn trăm sáu mươi đồng). Đồng thời, tiếp tục trả lãi, lãi quá hạn và lãi chậm trả phát sinh từ ngày 11/03/2023 cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng.
Trường hợp ông Nguyễn Q và bà Trần Thị T không thanh toán hoặc thanh toán không đủ cho Ngân hàng thì đề nghị cho phát mãi tài sản là:
Nhà ở tại địa chỉ: Lô 9B1-29 Khu dân cư số 04 N, phường C, quận H, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AK 548418 (số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H 11748), do UBND quận Hải Châu – thành Phố Đà Nẵng cấp ngày 03/10/2007 đứng tên ông Nguyễn Q và bà Trần Thị T.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần đối với bị đơn để cung cấp bản khai và hòa giải theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, tuy nhiên ông Nguyễn Q và bà Trần Thị T vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự trong vụ án đã được đảm bảo thực hiện đúng, đầy đủ các nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn vắng mặt tại Tòa án trong các phiên họp kiểm tra, giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và không có văn bản trình bày ý kiến là chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt là đúng quy định.
Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng buộc bị đơn trả nợ vay cho Ngân hàng nếu không trả được nợ thì xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, phát biểu quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Đây là vụ án tranh chấp hợp đồng phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa Ngân hàng N Chi nhánh K với ông Nguyễn Q, bà Trần Thị T và đều có mục đích lợi nhuận. Căn cứ khoản 1 điều 30; điểm b khoản 1 điều 35; điểm b khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Q, bà Trần Thị T vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung:
Về khoản nợ:
Ngày 23.12.2020 Ngân hàng N Chi nhánh K và ông Nguyễn Q, bà Trần Thị T có ký kết với nhau Hợp đồng cấp tín dụng số 2007LAV202000419. Hạn mức cho vay: 10.000.000.000 (Mười tỷ) đồng. Phương thức cho vay: Cho vay theo hạn mức; Thời hạn cho vay: Theo từng giấy nhận nợ. Mục đích sử dụng vốn vay: Bổ sung vốn lưu động kinh doanh Mua bán cát sạn; ô tô, xe máy đã qua sử dụng, đồ gỗ mỹ nghệ; Cho thuê xe du lịch và các chi phí khác năm 2020 và năm tiếp theo.
Để thực hiện Hợp đồng cấp tín dụng nêu trên, Agribank Chi nhánh K đã giải ngân cho ông Nguyễn Q, bà Trần Thị T bằng 02 Giấy nhận nợ như sau:
Giấy nhận nợ lần 1: Số 2007LDS202100699 ngày 25/11/2021, Số tài khoản giải ngân: 2007 206066036, số tiền giải ngân: 3.660.000.000 đồng. Thời hạn cho vay: 11 tháng, ngày trả nợ cuối cùng 25/10/2022.
Giấy nhận nợ lần 2: Số 2007LDS202100709 ngày 30/11/2021, Số giải ngân: (Số tài khoản 2007 206066036), số tiền giải ngân: 4.340.000.000 đồng. Thời hạn cho vay: 11 tháng, ngày trả nợ cuối cùng 30/10/2022.
Cả hai Giấy nhận nợ trên lãi suất cho vay 8,5%. Lãi suất chậm trả: 10%/năm. Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, đối với khoản vay thứ 01, số tiền gốc : 3.660.000.000 đồng và khoản vay thứ 2 số tiền gốc 4.340.000.000 đồng ông Nguyễn Q, bà Trần Thị T không trả nợ lãi theo đúng kỳ hạn đã cam kết từ ngày 01/3/2022. Ngày 17/02/2022 Agribank đã thông báo chuyển nợ quá hạn đối với hợp đồng tín dụng số 2007LAV202000419.
Tại phiên tòa, Agribank Chi nhánh K yêu cầu ông Nguyễn Q, bà Trần Thị T phải trả gốc và lãi tính đến ngày 10/3/2023 là:
Giấy nhận nợ số 01 tiền gốc 3.660.000.000 đồng, (trong đó lãi trong hạn 401.446.849 đồng, lãi quá hạn: 57.958.356 đồng, lãi chậm trả 20.336.331 đồng). Tổng cộng: 4.139.741.536 đồng.
Giấy nhận nợ số 02 tiền gốc 4.340.000.000 đồng (trong đó lãi trong hạn 470.979.178 đồng, lãi quá hạn: 65.694.521đồng, lãi chậm trả 23.675.225 đồng). Tổng cộng: 4.900.348.924 đồng.
Tổng số tiền ông Nguyễn Q, bà Trần Thị T còn nợ gốc và lãi: 9.040.090.460 đồng, trong đó lãi quá hạn 123.652.877 đồng; lãi trong hạn 872.426.027 đồng, lãi chậm trả 44.011.556 đồng. Ông Nguyễn Q, bà Trần Thị T còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng cấp tín dụng, Giấy nhận nợ, kể từ ngày 11/3/2023 đến ngày trả hết nợ.
Về tài sản bảo đảm: Khoản nợ nêu trên được bảo đảm bằng biện pháp bảo đảm sau:
Thế chấp nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại thửa đất số 195, tờ bản đồ số 55, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK548418, vào sổ cấp GCN: H11748 do UBND quận Hải Châu cấp ngày 03/10/2007 tại địa chỉ Lô 9B1-29 Khu dân cư số 04 N, phường C, quận H, thành phố Đà Nẵng đứng tên ông Nguyễn Q và bà Trần Thị T theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 2007-LCL-202000372 ngày 23/12/2020 được công chứng tại Văn phòng công chứng N (thành phố Đà Nẵng) ngày 23/12/2020, số công chứng 10561; đăng ký thế chấp tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại quận Hải Châu ngày 23/12/2020, quyển số 02 ngày 23/12/2020.
Xét thấy ông Nguyễn Q, bà Trần Thị T đã vi phạm nghĩa vụ của bên vay tài sản theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Căn cứ Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đối với tài sản thế chấp: Ngày 30/12/2022, Tòa án nhân dân quận Hải Châu tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ hiện trạng của tài sản thế chấp là nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại thửa đất số 195, tờ bản đồ số 55, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK548418 do UBND quận Hải Châu cấp ngày 03/10/2007 tại địa chỉ Lô 9B1-29 Khu dân cư số 04 N, phường C, quận H, thành phố Đà Nẵng cho ông N và bà Trần Thị T, theo hiện trạng, không có thay đổi gì so với thời điểm thế chấp tài sản. Ông Nguyễn Q, bà Trần Thị T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, do đó tài sản thế chấp trên được xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm ông Nguyễn Q, bà Trần Thị T phải chịu theo quy định của pháp luật.
Lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ là 2.000.000 đồng, ông Nguyễn Q, bà Trần Thị T phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ các điều 117, 299, 320, 322, 323; 463, 466 Bộ luật dân sự; Điều 91, khoản 2 Điều 95, khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng 2010. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N đối với ông Nguyễn Q, bà Trần Thị T về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng".
Xử:
1. Buộc ông Nguyễn Q, bà Trần Thị T phải trả cho Ngân hàng N số tiền nợ tính đến ngày 10.3.2023 là 9.040.090.460 (Chín tỷ không trăm bốn mươi triệu, không trăm chín mươi nghìn, bốn trăm sáu mươi đồng) trong đó, lãi quá hạn 123.652.877 đồng, lãi trong hạn 872.426.027 đồng, lãi chậm trả 44.011.556 đồng và phải thanh toán lãi phát sinh kể từ ngày 11.3.2023 cho đến khi thanh toán xong hết nợ vay theo mức lãi suất được thỏa thuận tại Hợp đồng cấp tín dụng số 2007LAV202000419 ngày 23.12.2020, Giấy nhận nợ ngày 25.11.2021 và Giấy nhận nợ ngày 30.11.2021.
Trường hợp ông Nguyễn Q, bà Trần Thị T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản thế chấp là nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại thửa đất số 195, tờ bản đồ số 55, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK548418, vào sổ cấp GCN: H11748 do UBND quận Hải Châu cấp ngày 03/10/2007 tại địa chỉ Lô 9B1-29 Khu dân cư số 04 N, phường C, quận H, thành phố Đà Nẵng đứng tên ông Nguyễn Q và bà Trần Thị T theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ.
Trường hợp khoản nợ được bảo đảm bằng quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở tại thửa đất số 195, tờ bản đồ số 55 tại địa chỉ Lô 9B1-29 Khu dân cư số 04 N, phường C, quận H, thành phố Đà Nẵng được thanh toán xong thì Ngân hàng N phải có nghĩa vụ trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK548418, vào sổ cấp GCN: H11748 do UBND quận Hải Châu cấp ngày 03/10/2007 tại địa chỉ Lô 9B1-29 Khu dân cư số 04 N, phường C, quận H, thành phố Đà Nẵng cho ông Nguyễn Q và bà Trần Thị T theo quy định tại Điều 322 Bộ luật dân sự.
2. Về án phí: Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm ông Nguyễn Q, bà Trần Thị T phải chịu 117.040.090 (Một trăm mười bảy triệu, không trăm bốn mươi nghìn, không trăm chín mươi đồng).
Hoàn trả cho Ngân hàng N tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 52.804.153 (Năm mươi hai triệu, tám trăm lẻ bốn nghìn, một trăm năm mươi ba đồng) theo biên lai thu số 00006219 ngày 17/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
3. Lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ là 2.000.000 đồng, ông Nguyễn Q, bà Trần Thị T phải chịu. Ngân hàng N đã tạm ứng nên ông Nguyễn Q, bà Trần Thị T phải hoàn trả lại cho Ngân hàng N – Chi nhánh K chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 2.000.000 đồng.
4. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
| Nơi nhận: - VKSND quận Hải Châu; - Các đương sự; - Chi cục THA DS quận Hải Châu; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Hữu |