vanban.org

Bản án 02/2023/KDTM-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP VNTV.

Buộc Công ty TNHH MTV TMDV xây dựng DD phải trả cho Ngân hàng TMCP VNTV số tiền vay gốc và lãi tạm tính đến ngày 17/4/2023 là 498.922.194 đồng (Bốn trăm chín mươi tám triệu, chín trăm hai mươi hai nghìn, một trăm chín mươi tư đồng). Trong đó: Nợ gốc thẻ: 210.521.778 đồng; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Ngân hàng TMCP VNTV - Công ty TNHH MTV TMDV xây dựng DD"
  • Tòa quyết gì? 1/. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP VNTV.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HĐ
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2023/KDTM-ST
Ngày: 17/4/2023
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HĐ - TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Hồng Gái

2. Ông Nguyễn Văn Đoạt

- Thư ký phiên tòa: Ông Lâm Nguyễn Thanh Huy - Thư ký TAND huyện HĐ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HĐ tham gia phiên tòa: Không.

Ngày 17 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện HĐ, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 06/2022/TLST-KDTM ngày 20 tháng 5 năm 2022 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2023/QĐXX-DS ngày 06 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP VNTV (Viết tắt: VPBank)

Trụ sở: Số 89 đường LH, phường LH, quận ĐĐ, TP. Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D - Chủ tịch HĐQT.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Thành Tr - Phó GĐ Khối pháp chế và kiểm soát tuân thủ.

Người đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng tại Toà án: Ông Nguyễn Tuấn V - Chuyên viên Xử lý nợ Khách hàng doanh nghiệp Miền Nam (Theo Văn bản uỷ quyền số 461/2022/UQ-PGĐ ngày 07/3/2022) - (Có mặt)

2. Bị đơn: Công ty TNHH MTV TMDV xây dựng DD.

Địa chỉ: số 328 ấp HS, xã TS, huyện HĐ, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Thanh D - Chức vụ: Giám đốc (Vắng mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Dương Thanh D, sinh năm 1984.

Địa chỉ: L7 -C5 đường số 2X, Khu đô thị PC, phường AH, thành phố RG, tỉnh Kiên Giang (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/3/2022 và tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Tuấn V trình bày như sau:

Công ty TNHH MTV TMDV Xây dựng DD (Công ty) đã mở giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế không có tài sản bảo đảm ngày 12 tháng 7 năm 2019. Hạn mức sử dụng thẻ là 300.000.000đ (Ba trăm triệu đồng), thời hạn 60 tháng, lãi suất 29,5%/năm.

Khoản vay này được bảo lãnh bằng toàn bộ tài sản cá nhân của ông Dương Thanh D theo hợp đồng bảo lãnh số AGG/19060/HDBL.01 ngày 02 tháng 01 năm 2020 và Hợp đồng bảo lãnh số 04/HĐBL/VPBANK-2019 ngày 11 tháng 7 năm 2019. Khoản tín dụng cấp cho Công ty không thực hiện biện pháp bảo đảm bằng thế chấp tài sản, không có đăng ký giao dịch bảo đảm.

Trong quá trình sử dụng vốn, Công ty đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ. VPBank đã nhiều lần liên hệ và làm việc với Công ty để yêu cầu hoàn trả nợ vay, nhưng Công ty cố tình kéo dài thời gian nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.

Nay VPBank yêu cầu Tòa án buộc Công ty TNHH MTV TMDV Xây dựng DD phải trả ngay một lần cho VPBank tổng số nợ còn thiếu tính đến hết ngày 17 tháng 4 năm 2023 là: Nợ thẻ: 210.521.778 đồng; lãi thẻ: 288.400.416 đồng. Tổng cộng: 498.922.194 đồng.

Ngoài ra, Công ty TNHH MTV TMDV Xây dựng DD vẫn phải tiếp tục chịu lãi quá hạn theo các hợp đồng tín dụng đã ký nêu trên cho tới khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho VPBank.

Trường hợp, Công ty TNHH MTV TMDV Xây dựng DD không thanh toán theo yêu cầu trên. Ông Dương Thanh D có trách nhiệm thanh toán toàn bộ khoản vay nêu trên theo hợp đổng bảo lãnh đã ký.

* Đối với bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã niêm yết tất cả các văn bản tố tụng gồm: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho Công ty DD và ông Dương Thanh D hợp lệ. Tuy nhiên đến ngày mở phiên tòa phía bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn vắng mặt và không có văn bản nêu ý kiến gửi cho Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên không có lời khai tại Tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng TMCP VNTV khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH MTV xây dựng Dương Dũ phải trả số tiền vay theo hợp đồng tín dụng với Ngân hàng. Công ty Dương Dũ có địa chỉ tại ấp Hòn Sóc, xã Thổ Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Xét thấy đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận:

Vào 12/7/2019 Công ty TNHH MTV xây dựng DD được VPBank phát hành và được phép sử dụng thẻ tín dụng quốc tế, với hạn mức sử dụng là 300.000.000 đồng, thời hạn 60 tháng, lãi suất 29,5%/năm. Khoản vay này được bảo đảm bằng toàn bộ tài sản của cá nhân ông Dương Thanh D - người đại diện theo pháp luật của Công ty DD. Trong thời gian sử dụng thẻ, Công ty DD (cụ thể là do ông Dương Thanh D) thường xuyên rút và trả tiền vay đúng hạn mức trong thời gian đầu dùng thẻ. Đến ngày 14/3/2020 là ngày đầu tiên quá hạn trả gốc và lãi nhưng ông D không trả, sau đó VPBank không liên lạc được với Công ty và ông D. Tính đến nay ông D mới trả được số tiền gốc 89.478.222 đồng, còn nợ số tiền gốc 210.521.778 đồng và tiền lãi quá hạn từ ngày 14/3/2020 đến nay. Như vậy việc Công ty DD sử dụng thẻ tín dụng của VPBank nhưng không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ của mình đối với VPBank nên đã vi phạm Điều 466 Bộ luật dân sự 2015. Do đó, VPBank khởi kiện yêu cầu Công ty DD phải có trách nhiệm trả gốc, lãi cho VPBank là có căn cứ để chấp nhận, phù hợp với quy định của pháp luật. Tính đến ngày 17/4/2023 Công ty DD còn nợ VPBank số tiền vay gốc và lãi là 498.922.194 đồng (trong đó: gốc 210.521.778 đồng; lãi: 288.400.416 đồng).

Đối với vai trò bảo lãnh của cá nhân ông Dương Thanh D: Xét thấy, trước khi VPBank phát hành thẻ tín dụng cho Công ty Dương D thì ông Dương Thanh D có ký Hợp đồng bảo lãnh với VPBank, nội dung như sau: “Bên bảo lãnh đồng ý bằng toàn bộ tài sản của mình, bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang cho Bên được bảo lãnh trong việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ hiện tại và nghĩa vụ trong tương lai…”. Do vậy, trong trường hợp Công ty Dương D không có khả năng thanh toán nợ cho VPBank, thì ông D có trách nhiệm dùng tài sản của mình để thanh toán toàn bộ khoản nợ vay của Công ty Dương D cho VPBank là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Công ty Dương D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch làm tròn là 23.957.000 đồng.

- VPBank được nhận lại tiền tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 91; Điều 95 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010

- Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1/. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP VNTV.

Buộc Công ty TNHH MTV TMDV xây dựng DD phải trả cho Ngân hàng TMCP VNTV số tiền vay gốc và lãi tạm tính đến ngày 17/4/2023 là 498.922.194 đồng (Bốn trăm chín mươi tám triệu, chín trăm hai mươi hai nghìn, một trăm chín mươi tư đồng). Trong đó:

- Nợ gốc thẻ: 210.521.778 đồng;

- Nợ lãi thẻ: 288.400.416 đồng;

Kể từ sau ngày 17/4/2023, Công ty TNHH MTV TMDV xây dựng DD còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của VPBank thì lãi suất mà Công ty DD phải tiếp tục thanh toán cho VPBank theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của VPBank.

Trường hợp Công ty TNHH MTV TMDV xây dựng DD không có khả năng thanh toán nợ cho VPBank, thì ông Dương Thanh D có trách nhiệm dùng tài sản của mình để thanh toán toàn bộ khoản nợ vay của Công ty Dương D cho VPBank.

2/. Về án phí DSST:

- Công ty TNHH MTV TMDV xây dựng DD phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch làm tròn là 23.957.000 đồng (Hai mươi ba triệu, chín trăm năm mươi bảy nghìn đồng).

- Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP VNTV số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 11.006.000 đồng (Mười một triệu, không trăm linh sáu nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0007832 ngày 21/4/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện HĐ, tỉnh Kiên Giang.

3/. Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng Công ty TNHH MTV TMDV xây dựng DD và ông Dương Thanh D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014./.

Cỡ chữ