- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn N Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2023/HSST. Ngày: 05 - 01 - 2023. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Hoàng Thị An.
2/ Ông Nguyễn Hữu Đệ.
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Xuân Hiếu – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Anh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Luân - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 259/2022/HSST ngày 07/12/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 271/2022/QĐXXST - HS ngày 20 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn N, sinh ngày 01/01/2005 tại SH, Lai Châu. Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Bản PM, xã NC, huyện SH, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Văn N1 và bà Lò Thị A; TATS: Theo Danh, chỉ bản số 154 của Công an huyện Đông Anh lập ngày 03/3/2021 và Trích lục tiền án, tiền sự số 3420331/2022/PV06 ngày 19/12/2022 thể hiện bị cáo không có tiền sự, tiền án; Nhân thân không có tiền sự, tiền án đã xóa
Bị cáo đang bị tạm giam theo Lệnh tạm giam của Công an huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Lò Văn N: Ông Trần Văn Hải - Phó Bí thư Đoàn thanh niên xã Tiên Dương, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.
Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn N: Ông Vũ Văn Dũng – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
Công ty cổ phần đường sắt HT – Xí nghiệp quản lý CTL; Trụ sở: Khu ga KN, xã KN, huyện ĐA, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Văn T – Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T1 – Đội trưởng đội bảo vệ. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng công khai tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 08/01/2022, Công an phường Đông Ngạc, quận Bắc Từ Liêm phối hợp Đội bảo vệ xí nghiệp cầu TL tuần tra, kiểm soát tại tầng 1 cầu Thăng Long thuộc địa bàn xã Hải Bối, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội phát hiện Lỷ Văn S, sinh năm 1988; hộ khẩu thường trú: thôn HT, xã HL, huyện TY, tỉnh Quảng Ninh, đang ôm 02 thùng sắt đi bộ trên khu vực đường sắt. Tổ công tác tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện trong thùng sắt có nhiều bu lông, đinh vít. Đấu tranh tại chỗ, đối tượng S khai nhận số bu lông, đinh vít trên là do S cùng đồng bọn trộm cắp trên đường sắt tầng 1 cầu Thăng Long ngày 07/01/2022 mà có được. S đang vận chuyển số bu lông, đinh vít trên đi tiêu thụ thì bị phát hiện. Căn cứ lời khai của đối tượng S, Công an phường Đông Ngạc tiến hành mời Lò Văn N, sinh ngày 10/8/2005; hộ khẩu thường trú: thôn NH, xã NC, huyện SH, tỉnh Lai Châu và Vũ Xuân T, sinh ngày 11/5/2000; hộ khẩu thường trú: thôn KM, xã Đ L, huyện VC, tỉnh Yên Bái, đang ngồi đợi S ở quán nước trên đường Tân Xuân về trụ sở làm việc.
Cùng ngày, Công an Phường Đông Ngạc chuyển hồ sơ cùng các đối tượng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đông Anh. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã làm rõ nội dung vụ án như sau:
Ngày 05/01/2022, Lò Văn N và Vũ Xuân T cùng làm thợ dọn dẹp công trường ở khu vực Đa Tốn, Gia Lâm, Hà Nội nên quen biết nhau. Do công việc vất vả, T rủ N đi tìm công việc khác làm.
Khoảng 14h00’ ngày 07/01/2022, T và N bắt xe đến bến xe Mỹ Đình thuộc Quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội gặp Lỷ Văn S đang lang thang nhặt ve chai. S rủ N và T đi nhặt ve chai cùng, N và T đồng ý. S, N và T đi bộ lang thang nhặt ve chai đến đầu tầng một cầu Thăng Long nhưng không nhặt được gì có giá trị. Lỷ Văn S rủ N và T đi lên đường ray tàu hỏa trong tầng một của cầu Thăng Long xoáy trộm các bu lông, ốc vít của đường ray tàu hỏa bán lấy tiền tiêu xài. N và T đồng ý, cùng nhau đi trên phần làn đường xe mô tô tầng một, trèo qua lan can vào đường ray giữa, dùng tay xoáy các bu lông, ốc vít trên đường ray tàu hỏa. S, T và N xoáy một lúc thấy được nhiều thì không xoáy nữa. Vũ Xuân T nhặt 02 thùng bằng kim loại cạnh đó đưa cho N, cầm các bu lông ốc vít tháo được cho vào thùng. N thấy 02 tủ kim loại hình hộp ở ven đường ray không khóa cửa, mở ra lấy 01 miếng đệm ray hình chữ nhật và một số long đen, bu lông, ốc vít để vào thùng. S xách 02 thùng bu lông ốc vít vừa trộm cắp được cùng N và T cất giấu cạnh đường ray để đợi đến sáng đem đi bán. Sau đó cả ba đi bộ về Công viên Hòa Bình ngủ.
Khoảng 5h00’ ngày 08/01/2022, S cầm một bao tải dứa màu xanh (nhặt được ven đường) cùng T và N đi bộ đến tầng một đầu cầu Thăng Long. S đi bộ đến vị trí cất giấu, cho hộp để bu lông, ốc vít vào trong bao tải, T và N đợi ở phía đầu cầu. Khi S đi đến vị trí cất giấu để lấy tài sản thì bị tổ công tác phát hiện.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra tạm giữ:
Của Lỷ Văn S: 01 bản đệm sắt ray “P50” kích thước: 30x17cm; 17 chiếc đinh Crămpong dài 17cm; 36 chiếc đinh Tiarêpong dài 12cm; 12 Bu lông móc cầu L370mm bao gồm cả đai ốc và long; 16 Đai ốc bu lông móc, đường kính 3cm; 13 long đen; 01 thùng sắt hình hộp kích thước 20x20x35cm; 01 thùng sắt hình trụ cao khoảng 25cm; 01 bao tải màu xanh
Ngày 20/01/2022, Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đông Anh kết luận:
- 01 (một) bản đệm sắt ray “P50” kích thước: 30x17cm trị giá: 180.000 đồng.
- 17 (mười bảy) chiếc đinh Crămpong dài 17cm trị giá: 205.700 đồng.
- 36 (ba mươi sáu) chiếc đinh Tiarêpong dài 12cm trị giá: 1.162.800 đồng.
- 12 (mười hai) Bu lông móc cầu L370mm bao gồm cả đai ốc và long trị giá: 1.380.000 đồng.
- 16 Đai ốc bu lông móc, đường kính 3cm; 13 long đen: Không còn giá trị.
- Tiền công lắp đặt 2.106.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản: 5.034.500 đồng (Năm triệu, không trăm ba mươi tư nghìn, năm trăm đồng).
Tại Cơ quan điều tra, Lỷ Văn S, Vũ Xuân T, Lò Văn N khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với tài liệu điều tra thu thập được có trong hồ sơ.
Đối với 01 bản đệm sắt ray “P50” kích thước: 30x17cm; 17 chiếc đinh Crămpong dài 17cm; 36 chiếc đinh Tiarêpong dài 12cm; 12 Bu lông móc cầu L370mm bao gồm cả đai ốc và long; 16 Đai ốc bu lông móc, đường kính 3cm; 13 long đen là tài sản hợp pháp của Công ty Cổ phần đường sắt Hà Thái - Xí nghiệp quản lý Cầu Thăng Long. Ngày 27/01/2022, Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng, trao trả lại số tài sản trên cho ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1964; hộ khẩu thường trú: Tập thể xây dựng quản lý C, phường ĐN, quận BTL, thành phố Hà Nội – đại diện theo ủy quyền của công ty. Sau khi nhận lại tài sản, ông T1 không yêu cầu bồi thường dân sự, đề nghị xử lý S, T và N theo quy định của pháp luật.
Đối với 01 thùng sắt hình hộp kích thước 20x20x35cm và 01 thùng sắt hình trụ cao khoảng 25cm, T nhặt ở khu vực cạnh đường ray tàu hỏa, là các thùng đựng dầu bảo dưỡng đường ray sau khi sử dụng hết dầu công nhân vứt bỏ, tài sản không còn giá trị sử dụng; 01 bao tải dứa màu xanh tạm giữ của Sáu là vật chứng của vụ án, chuyển Tòa án nhân dân huyện Đông Anh giải quyết theo thẩm quyền
Trong giai đoạn truy tố, Lò Văn N đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú. Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh đã yêu cầu Cơ quan cảnh sát điều tra ra Quyết định truy nã và ra Quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với N, khi nào bắt được sẽ tiếp tục xử lý theo quy định.
Đối với Lỷ Văn S và Vũ Xuân T, ngày 11/5/2022, Tòa án nhân dân huyện Đông Anh mở phiên tòa, xử phạt bị cáo Lỷ Văn S 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; Vũ Xuân T 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo của Bản án số 306/2020/HSPT ngày 14/5/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Buộc T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 51 tháng tù. Quyết định xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 thùng sắt hình hộp kích thước 20x20x35cm và 01 thùng sắt hình trụ cao khoảng 25cm, 01 bao tải dứa màu xanh.
Ngày 14/10/2022, Lò Văn N bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện An Lão, thành phố Hải Phòng bắt giữ và bị khởi tố về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 07/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh đã ban hành Quyết định phục hồi vụ án đối với Lò Văn N.
Tại bản Cáo trạng số 263/CT-VKS-ĐA ngày 29/11/2022, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh đã truy tố: Bị cáo Lò Văm N về tội Trộm cắp tài sản theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi của mình như cáo trạng đã nêu, ăn năn, hối cải về hành vi của mình và mong được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày bản luận cứ xác định: Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa thành niên, bị cáo cư trú tại vùng có khó khăn về kinh tế là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn hạn chế nên đã vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ thuộc điềm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, chế định đối với người chưa thành niên phạm tội quy định tại Điều 91 và Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt để bị cáo cải tạo tốt sớm trở về với gia đình; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và cho bị cáo được miễn nộp án phí theo quy định tại điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo về tội danh như Cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng Khoản 1 Điều 173, Điểm i, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt:
Lò Văn N: Từ 08 (tám) tháng tù đến 10 (mười) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
Về phần dân sự: Tài sản bị trộm cắp đã được trả lại cho bị hại và bị hại không yêu cầu gì thêm về phần dân sự nên không phải giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 07/01/2022 tại tầng 1 Cầu Thăng Long, thuộc xã Hải Bối, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, Lò Văn N cùng các đối tượng Lỷ Văn S và Vũ Xuân T có hành vi Trộm cắp 01 bản đệm sắt ray “P50” kích thước: 30x17cm; 17 chiếc đinh Crămpong dài 17cm; 36 chiếc đinh Tiarêpong dài 12cm; 12 Bu lông móc cầu L370mm bao gồm cả đai ốc và long; 16 Đai ốc bu lông móc, đường kính 3cm; 13 long đen (không còn giá trị sử dụng) của công ty Cổ phần đường sắt HT - Xí nghiệp quản lý CTL. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 5.034.500 đồng. Giai đoạn truy tố, Lò Văn N không chấp hành giấy triệu tập. Tiến hành xác minh tại địa phương nơi Lò Văn N cư trú, gia đình và chính quyền địa phương xác định Lò Văn N không có mặt tại nơi cư trú, Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã đối với N. Sau đó, N thực hiện hành vi vi phạm pháp luật khác tại An Lão, thành phố Hải Phòng và bị bắt.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi Trộm cắp tài sản phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Do đó, đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Lò Văn N phạm tội Trộm cắp tài sản theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ xác định: Bị cáo không phải chịu các tình tiết tăng nặng.
Bị cáo thành khẩn khai báo hành vi của mình và ăn năn, hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm i Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Ngoài ra, bị cáo là người dân tộc Thái đang cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế khó khăn nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và khi phạm tội bị cáo mới 17 tuổi 07 ngày nên khi cân nhắc hình phạt đối với bị cáo cần cho bị cáo hưởng các chế định đối với người chưa thành niên phạm tội. Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú nhưng bị cáo đã bỏ trốn và cơ quan điều tra phải ra quyết định truy nã đối với bị cáo và bị cáo chỉ bị bắt khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật khác nên thuộc trường hợp không cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 2 Điều 3 của Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo của Tòa án nhân dân Tối cao ngày 07/9/2022. Do vậy, cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với mức độ hành vi và giảm nhẹ một phần cho bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về phần dân sự: Đối với các tài sản bị trộm cắp đã trả cho bị hại và bị hại không có yêu cầu gì khác nên Tòa án không giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên theo Quyết định số 861/QĐ-Ttg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh sách các xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2025, nơi bị cáo cư trú được xác định là khu vực III và bị cáo là người dân tộc Thái nên bị cáo thuộc đối tượng được miễn nộp tiền án phí theo quy định tại điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án do vậy cho bị cáo được miễn tiền án phí theo quy định là phù hợp.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng Khoản 1 Điều 173, Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt:
Lò Văn N: 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106, Điều 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về phần dân sự: Tài sản đã được trả lại cho bị hại và bị hại không có yêu cầu gì khác nên Tòa án không giải quyết.
Bị cáo Lò Văn N được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ./.
| Nơi nhận: - VKS ND huyện Đông Anh; - Công an huyện Đông Anh; - Cơ quan Thi hành án hình sự; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thu Thanh |