- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Khánh Q phạm “Tội vi phạm quy định về an toàn lao động” - phạm tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở…"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 295, Điều 35, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2023/HS-ST Ngày: 16-01-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Chí Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đỗ Thị Thanh Thuý.
Bà Trần Thị Chất.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Như Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Văn Ni – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2023, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2022/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2022 theo uy t định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2022/ ĐXXST-HS, ngày 14 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Trần Khánh Q, tên gọi khác: C; sinh ngày 01/01/1975 tại H - Kiên Giang; nơi cư trú: Tổ 1, ấp P, xã T, thành phố H, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần M K1 và bà Huỳnh Thị H; có vợ tên Đặng Mộng Lan T4 và 02 con; tiền án: Không, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cáo được tại ngoại. (có mặt)
Bị hại: Chị Ngô Thanh Kim T, sinh năm 1994 (đã ch t).
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
1- Ông Ngô Công K, sinh năm 1959; (cha bị hại)
2- Bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1959. (mẹ bị hại)
Cùng địa chỉ: Số nhà 35/26/1/6, đường Đ, Khu vực X, phường V, quận O, Thành phố C. (ông K có mặt, bà Đ vắng mặt)
3- Anh Đào uốc T2, sinh năm 1981. (là cha ruột và là người đại diện hợp pháp của các cháu Ngô Hoàng T3, sinh ngày 02/11/2016 và cháu Ngô Hoàng M, sinh ngày 12/3/2015, là các con của bị hại)
Địa chỉ thường trú: Khu vực Y, phường V, quận O, Thành phố C; Chỗ ở: Ấp P, xã T, thành phố H, tỉnh Kiên Giang. (vắng mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đại diện hợp pháp của bị hại gồm cháu Ngô Hoàng T3, sinh ngày 02/11/2016, cháu Ngô Hoàng M, sinh ngày 12/3/2015 và anh Đào Quốc T2: Ông Huỳnh Tài Đ2, là Luật sư của Văn phòng luật sư Đ2 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Kiên Giang. (có đơn xin vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1- Anh Phùng Phan Ngọc A, sinh năm 1982. Địa chỉ: Ấp H1, xã B, huyện T, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
2- Anh Đào uốc T2, sinh năm 1981. Địa chỉ thường trú: Khu vực X, phường V, quận O, Thành phố C; Chỗ ở: Ấp P, xã T, thành phố H, tỉnh Kiên Giang. (vắng mặt)
Người làm chứng:
1- Bà Đặng Mộng Lan T4; (vắng mặt)
2- Ông Lê Thành L; (vắng mặt)
3- Bà Tô Thị H2; (vắng mặt)
4- Bà Mai Thị H3. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và di n bi n tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo nội dung bản Cáo trạng số: 31/CT-VKSHT ngày 10 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang đã truy tố Trần Khánh Q về hành vi vi phạm quy định về an toàn lao động như sau:
Do bị can Trần Khánh (tên gọi khác là C) với ông Lê Thành L (tên gọi khác là Th), sinh năm 1985, nơi cư trú: phường M, thành phố L, tỉnh An Giang có quen bi t với nhau. Khi nghe ông L nói có nhu cầu mua 500 trụ bê tông cấm ranh đất, Trần Khánh thỏa thuận với Lê Thanh L, để Trần Khánh mua vật tư và thuê lao động và trực ti p quản lý công việc đổ trụ bê tông để giao lại cho ông L. Sau đó, Trần Khánh thuê bà Ngô Thanh Kim T, Tô Thị H2, Trần Thị S, Mai Thị H3, Đặng Mộng Lan T4 và ông Võ Văn T2 cùng trú tại ấp P, xã T, thành phố H, tỉnh Kiên Giang làm công việc đổ bê tông, được trả công 250.000 đ ng/người/ngày đối với lao động nữ và 300.000 đ ng/người/ngày đối với lao động nam. Ngày 09/5/2022 bắt đầu thực hiện công việc đổ cột bê tông và Trần Khánh Q sử dụng cối trộn bê tông, màu cam, không rõ nhãn hiệu, có kích thước ngang 1,5 mét, rộng 0,7 mét, cao 1,2 mét, trên cối trộn bê tông có thi t k mô tơ điện 2HP, màu xanh nhãn hiệu Electric motor Toàn Phát, date 05/2021. IFC 60032-1.N0 18,4 kg, Tokyo, Japan, made in Việt Nam(đã qua sử dụng) để trộn bê tông.
Đ n ngày 10/5/2022 tại Tổ 7, ấp P, xã T, thành phố H, tỉnh Kiên Giang, bà Ngô Thanh Kim T, Tô Thị H2, Trần Thị S, Mai Thị H3, Đặng Mộng Lan T4 và ông Võ Văn T2 ti p tục thực hiện công việc đổ trụ bê tông như ngày trước đó. Khi bắt đầu công việc, Trần Khánh Q trực ti p phân công, giao việc làm trong ngày, r i đi nơi khác làm công việc riêng. Đ n 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi bà Ngô Thanh Kim T cùng với bà Tô Thị H2 khiêng xi măng đổ vào cối trộn bê tông đang hoạt động, thì bà T la lên “điện giật”, lùi lại và ngã xuống đất, được mọi người làm chung đưa đ n Trung tâm y t thành phố H cấp cứu nhưng bà T đã tử vong.
Tại thời điểm khám nghiệm hiện trường, công nhân quản lý vận hành điện của Chi nhánh Điện lực thành phố H dùng thi t bị chuyên dùng để kiểm tra dòng điện đối với cối trộn bê tông hoạt động, dòng điện trên mô tơ điện của cối trộn bê tông là 333,4 vôn.
Tại K t luận giám định pháp y về mô bệnh học số 04.215/MBH-22 ngày 14/6/2022 của Trung tâm pháp y sở y t Thành phố H Chí M, k t luận đối với Ngô Thanh Kim T: (BL 13-16)
- Da ti p xúc điện.
- Phù phổi cấp.
- Các tạng xung huy t.
Tại Bản k t luận giám định pháp y tử thi số 408/KL-KTHS ngày 18/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang, k t luận đối với Ngô Thanh Kim T: (BL 11-12)
1. Các k t quả chính
- Trên người nạn nhân có v t bỏng cháy da rải rác mặt sau 1/3 dưới cẳng tay trái đ n mặt lưng bàn tay trái.
- Hai phổi phù sung huy t.
- Cơ tim sung huy t và có nhiều chấm xuất huy t rải rác.
- Gan, lách và thận sung huy t.
- Bản k t luận giám định pháp y về mô bệnh học g m các tổn thương: Da ti p xúc điện. Phù phổi cấp. Các tạng sung huy t.
2. Nguyên nhân ch t: Do điện giật.
Tại Văn bản số 82/ĐĐTTNLĐ-TTr ngày 16/8/2022 của Đoàn điều tra tại nạn lao động tỉnh Kiên Giang k t luận: Đây là tai nạn lao động xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động là tai nạn lao động. Vụ tai nạn lao động nghiêm trọng làm ch t 01 người lao động mà do lỗi của người sử dụng lao động (BL 60).
Vật chứng trong vụ án:
1) Một cối trộn bê tông, màu cam, không rõ nhãn hiệu, có kích thước ngang 1,5 mét, rộng 0,7 mét, cao 1,2 mét, trên cối trộn bê tong có thi t k mô tơ điện 2HP, màu xanh nhãn hiệu Electric motor Toàn Phát, date 05/2021. IFC 60034-1.N0 18,4 kg, Tokyo, Japan, made in Việt Nam (đã qua sử dụng).
2) Một cuộn dây điện màu đỏ, dài 23 mét, nhãn hiệu Daphaco số 128150720*0.03 m (đã qua sử dụng).
Các vật chứng nêu trên hiện đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố H, đề nghị trả lại cho ông Phùng Phan Ngọc A là chủ sở hữu.
Như vậy, khi sử dụng lao động, bị can Trần Khánh chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm về an toàn, vệ sinh lao động của người sử dụng lao động như chưa trang bị đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động khi thực hiện công việc có y u tố nguy hiểm; chưa kiểm tra, bảo dưỡng máy, thi t bị định kỳ, tổ chức kiểm tra, đánh giá các y u tố nguy hiểm tại nơi làm việc để có các biện pháp về công nghệ, kỹ thuật nhằm loại trừ, giảm thiểu y u tố nguy hiểm; sử dụng lao động hoặc làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động, khi chưa được huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động. Hậu quả, bà Ngô Thanh Kim T đã bị điện giật dẫn đ n tử vong trong quá trình lao động. Hành vi của Trần Khánh đã vi phạm điểm b khoản 2 Điều 7, Điều 14, Điều 16 Luật An toàn, vệ sinh lao động. Hành vi của Trần Khánh đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 295 Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Đào uốc T2 là ch ng của bà Ngô Thanh Kim T yêu cầu b i thường chi phí mai táng là 59.700.000 đ ng; tiền tổn thất tinh thần và tiền cấp dưỡng cho 02 con ruột của bà Ngô Thanh Kim T là Ngô Hoàng T3, sinh năm 2016 và Ngô Hoàng M, sinh năm 2015 đ n 18 tuổi. Bị can Trần Khánh và ông Ngô Công K, bà Phạm Thị Đ là cha mẹ ruột của bà Ngô Thanh Kim T, đã thỏa thuận hỗ trợ số tiền 40.000.000 đ ng. Theo Đơn xin bãi nại đề ngày 24/12/2022, ông Đào uốc T2 đã thoả thuận b i thường xong Trần Khánh và không có yêu cầu gì thêm.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đ ng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Trần Khánh phạm Tội vi phạm quy định về an toàn lao động.
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 295, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo hình phạt tiền, mức phạt từ 20.000.000 đ ng đ n 30.000.000 đ ng.
- Về vật chứng: Đề nghị trả lại cho ông Phùng Phan Ngọc A là chủ sở hữu.
- Về b i thường thiệt hại: Ghi nhận việc đại diện bị hại không yêu cầu b i thường gì thêm.
- Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật và không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Ông Ngô Công K đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và còn được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ có trong h sơ vụ án và chứng minh tại phiên tòa, nên Hội đ ng xét xử có đủ cơ sở k t luận: Vào khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 10/5/2022, tại Tổ 7, ấp P, xã T, thành phố H, tỉnh Kiên Giang, Trần Khánh là người sử dụng lao động thuê các bà Ngô Thanh Kim T, Tô Thị H2, Trần Thị S, Mai Thị H3, Đặng Mộng Lan T4 và ông Võ Văn T2 làm công việc đổ bê tông và trong quá trình thực hiện công việc có sử dụng máy trộn bê tông hoạt động bằng điện nhưng Trần Khánh chưa kiểm tra, bảo dưỡng máy, thi t bị định kỳ, tổ chức kiểm tra, đánh giá các y u tố nguy hiểm tại nơi làm việc để có các biện pháp về công nghệ, kỹ thuật nhằm loại trừ, giảm thiểu y u tố nguy hiểm; sử dụng lao động hoặc làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động khi chưa được huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động. Hậu quả bà Ngô Thanh Kim T đã bị điện giật dẫn đ n tử vong trong quá trình lao động. Hành vi của Trần Khánh đã vi phạm điểm b khoản 2 Điều 7, Điều 14, Điều 16 Luật an toàn, vệ sinh lao động, đã cấu thành Tội vi phạm quy định về an toàn lao động được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 295 của Bộ luật Hình sự, cụ thể:
“Điều 295. Tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người
1. Người nào vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người; ...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo có đầy đủ năng lực nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo là người thuê mướn, sử dụng lao động nhưng chưa thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ, trách nhiệm về an toàn, vệ sinh lao động của người sử dụng lao động dẫn đ n hậu quả gây ra cái ch t của bị hại T. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý, vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 7, Điều 14 và Điều 16 của Luật An toàn, vệ sinh lao động. Do bị cáo không tuân thủ các quy định về an toàn lao động, đã gây tai nạn lao động làm cho bà Ngô Thanh Kim T tử vong. Hành vi của bị cáo còn làm ảnh hưởng đ n trật tự, trị an tại địa phương. Vì vậy, nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội, cần xử lý bị cáo theo pháp luật hình sự là cần thi t, tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra.
Xét về nhân thân: Tài liệu về lý lịch thể hiện bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
Về tình ti t tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo không có tình ti t tăng nặng nào. Về các tình ti t giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi vi phạm, có trách nhiệm thăm hỏi và thể hiện nguyện vọng b i thường, bù đắp phần nào sự đau thương mất người thân mà gia đình bị hại gánh chịu, chứng tỏ bị cáo cũng đã ăn năn hối cải; bị cáo đã b i thường số tiền 40.000.000 đ ng cho cha, mẹ bị hại và được cha mẹ bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Sau khi có quy t định đưa vụ án ra xét xử, bị cáo đã b i thường xong số tiền 150.000.000 đ ng cho hai đứa con của bị hại (do cha hai cháu là ông Đào uốc T2 làm người đại diện) và ông T2 xin bãi nại cho bị cáo. Vì vậy, cần xem xét, áp dụng tình ti t giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về áp dụng hình phạt: Xét thấy cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo sao cho vừa đảm bảo tính giáo dục, vừa răn đe phòng ngừa chung. Bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, đã thực hiện b i thường xong và được những người đại diện của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo có nhiều tình ti t giảm nhẹ và không có tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo hình phạt tiền, mức phạt từ 20.000.000 đ ng đ n 30.000.000 đ ng là hoàn toàn có cơ sở chấp nhận và phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo. Bị cáo đã nộp trước số tiền 16.000.000 đ ng theo Biên lai thu tiền số 0000432 ngày 29/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H nên được khấu trừ vào số tiền phạt.
Về trách nhiệm dân sự: Cha mẹ bị hại là ông K và bà Đ đã được bị cáo b i thường cho số tiền 40.000.000 đ ng xem như là khoản b i thường tổn thất tinh thần, không yêu cầu b i thường gì thêm, ông Đào uốc T2 là người đại diện hợp pháp của con bị hại là cháu Ngô Hoàng T3, sinh ngày 02/11/2016 và cháu Ngô Hoàng M, sinh ngày 12/3/2015 đã được bị cáo b i thường xong số tiền 150.000.000 đ ng và không yêu cầu b i thường gì thêm nên Hội đ ng xét xử ghi nhận.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại cho ông Phùng Phan Ngọc A là chủ sở hữu các vật chứng g m: Một cối trộn bê tông, màu cam, không rõ nhãn hiệu, có kích thước ngang 1,5 mét, rộng 0,7 mét, cao 1,2 mét, trên cối trộn bê tong có thi t k mô tơ điện 2HP, màu xanh nhãn hiệu Electric motor Toàn Phát (đã qua sử dụng); Một cuộn dây điện màu đỏ, dài 23 mét, nhãn hiệu Daphaco (đã qua sử dụng).
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đ ng án phí hình sự sơ thẩm.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quy t định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm a khoản 1 Điều 295, Điều 35, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
- Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Điều 23 của Nghị quy t số 326/2016/UBTV H14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ uốc hội;
1. Tuyên bố bị cáo Trần Khánh phạm “Tội vi phạm quy định về an toàn lao động”.
Xử phạt bị cáo Trần Khánh hình phạt tiền, mức phạt tiền là 20.000.000 đ ng (Hai mươi triệu đ ng). Bị cáo đã nộp trước số tiền 16.000.000 đ ng (Mười sáu triệu đ ng) theo Biên lai thu tiền số 0000432 ngày 29/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H, tỉnh Kiên Giang nên phải nộp thêm số tiền 4.000.000 đ ng (Bốn triệu đ ng).
2. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho ông Phùng Phan Ngọc A là chủ sở hữu các vật chứng g m:
1) Một cối trộn bê tông, màu cam, không rõ nhãn hiệu, có kích thước ngang 1,5 mét, rộng 0,7 mét, cao 1,2 mét, trên cối trộn bê tong có thi t k mô tơ điện 2HP, màu xanh nhãn hiệu Electric motor Toàn Phát, date 05/2021. IFC 60034-1.N0 18,4 kg, Tokyo, Japan, made in Việt Nam (đã qua sử dụng).
2) Một cuộn dây điện màu đỏ, dài 23 mét, nhãn hiệu Daphaco số 128150720*0.03 m (đã qua sử dụng).
Vật chứng nêu trên hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H theo uy t định chuyển vật chứng số 22/ Đ-VKSHT ngày 10/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H và Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 16/11/2022 giữa đại diện Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H.
3. Về b i thường thiệt hại: Ghi nhận việc những người đại diện hợp pháp của bị hại bà Ngô Thanh Kim T không yêu cầu bị cáo b i thường gì thêm.
4. Về án phí: Buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đ ng (Hai trăm nghìn đ ng).
5. uyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cháu Ngô Hoàng T3, Ngô Hoàng M vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm y t hợp lệ.
Trường hợp bản án, quy t định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng ch thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND tỉnh Kiên Giang; - VKSND Tp. H; - Chi cục THADDS Tp. H; - Công an Tp. H; - UBND xã T, H-KG; - Bị cáo; - Lưu: HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Tạ Chí Dũng |