- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Xuân B - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Xuân B phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2023/HS-ST Ngày 06/01/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Hồng Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Văn Đức
2. Bà Nguyễn Ngọc Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Khánh Linh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Lại Văn Thịnh - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 184/2022/HSST ngày 29 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 187/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2022/HSST-QĐ ngày 21/12/2022 đối với bị cáo:
Đỗ Xuân B, sinh ngày 24 tháng 9 năm 1995 tại T. Nơi cư trú: thôn T1, xã A, huyện T2, tỉnh T. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Con ông Đỗ Xuân T3 và bà Chu Thị T4; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bằng “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú”; Có mặt.
* Bị hại: Chị Lương Hồng T5, sinh năm 1995; Nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, huyện T2, tỉnh T; Có mặt
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Công ty TNHH H. Địa chỉ: Lô đất G1 - Khu công nghiệp T6, xã L, huyện A1, thành phố H1.
Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Lưu Xuân T7 - Chức vụ: Trưởng phòng Hành chính-Nhân sự Công ty (Theo giấy ủy quyền ngày 01/12/2022); Có mặt.
* Người làm chứng:
- Bà Trần Thị T8, sinh năm 1974; Trú tại: thôn N, xã Đ, huyện T2, tỉnh T; vắng mặt.
- Anh Lý Hồng S, sinh năm 1996; Trú tại: Số nhà 105, đường N, phường K, thành phố T, tỉnh T; vắng mặt.
- Anh Lê Văn T9, sinh năm 1990; Trú tại: thôn Đ1, xã Đ2, huyện T2, tỉnh T; vắng mặt.
- Chị Đỗ Thị Hà M, sinh năm 1995; Trú tại: tổ 04, phường P, thành phố T, tỉnh T; vắng mặt.
- Chị Bùi Thị X, sinh năm 1985; Trú tại: tổ 14, phường T10, thành phố T, tỉnh T; vắng mặt.
- Chị Trần Thu H2, sinh năm 1995; Trú tại: đường T11, tổ 8, phường Đ3, thành phố T, tỉnh T; vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị T12, sinh năm 1996; Trú tại: tổ 07, phường T10, thành phố T, tỉnh T; vắng mặt.
(Bà T8, anh S, chị M, chị X, chị H2, chị T12 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh T9 vắng mặt không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng cuối tháng 02/2022, Đỗ Xuân B có quen, yêu chị Lương Hồng T5 và đã nhiều lần quan hệ tình dục với nhau, đến tháng 6/2022 chị T5 biết B đầu tư tiền ảo Bitcoin bị thua lỗ, hai người thường xuyên cãi nhau nên chị T5 đã chia tay B nhưng B thường gọi điện, nhắn tin cho chị T5 để níu kéo tình cảm. Ngày 12/6/2022, B rủ chị T5 sang thành phố N1 chơi và vào một nhà nghỉ gần trung tâm thương mại GO để quan hệ tình dục. Sau khi quan hệ xong B dùng điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Promax chụp 02 ảnh chị T5 đang nằm ngủ trong tư thế không mặc quần áo, B đã chuyển 02 ảnh này từ điện thoại sang lưu trữ tại máy tính laptop nhãn hiệu ASUS màu đen. Do nghi ngờ chị T5 quan hệ tình cảm với người khác nên ngày 19/6/2022 B đã chỉnh sửa ảnh khỏa thân của chị T5 chỉ lấy từ phần vai lên đến đầu và gửi cho chị T5, sau đó B gọi điện thoại nói với chị T5: “Bây giờ phải trả giá thì đối với tôi phải trả giá bằng tiền”. Chị T5 hỏi: “Thế bây giờ trả hết số nợ cho anh hay như thế nào ”, B nói: “Thôi không cần trả hết, thôi cô trả một nửa, tôi trả một nửa”, chị T5 hỏi: “Bây giờ một nửa của anh là bao nhiêu” thì B yêu cầu chị T5 phải trả một nửa số nợ của B là 200.000.000 đồng nếu không B sẽ tung các hình ảnh khỏa thân cùng clip nhạy cảm của hai người cho người nhà, bạn bè chị T5 và đưa lên các trang mạng xã hội của cơ quan nơi chị T5 làm việc. Do lo sợ B sẽ thực hiện nên chị T5 đã đồng ý với yêu cầu của B. Ngày 20/6/2022, B không thấy chị T5 chuyển tiền theo yêu cầu nên đã sử dụng máy tính laptop nhãn hiệu ASUS màu đen lập ra một số tài khoản mạng xã hội facebook như: A, B, C... rồi vào 02 trang Fanpage “Bệnh viện N2” và “Phòng công tác xã hội Bệnh viện N2” để đăng các bài viết nói xấu, bôi nhọ, xúc phạm danh dự chị T5 nhằm mục đích uy hiếp tinh thần buộc chị T5 phải chuyển cho B 200.000.000 đồng. Ngày 21/6/2022 B gửi cho chị T5 01 hình ảnh đã được làm mờ, che đi các bộ phận nhạy cảm của chị T5, ngày 24/6/2022 B tiếp tục dùng điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 promax nhắn tin và yêu cầu chị T5 trong 01 tuần phải chuyển số tiền 200.000.000 đồng cho B nhưng chị T5 chưa chuyển tiền. Ngày 30/6/2022, B tiếp tục nhắn tin, bình luận trên 02 trang Fanpage của Bệnh viện N2 nhằm uy hiếp tinh thần buộc chị T5 chuyển tiền. Ngày 04/7/2022, chị T5 đã đến Phòng cảnh sát hình sự Công an tỉnh Thái Bình trình báo sự việc.
Tại bản Cáo trạng số 203/CT-VKSTPTB ngày 29 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Đỗ Xuân B về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 170 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà trong phần tranh luận, Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh tuyên bố bị cáo Đỗ Xuân B phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”; Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt Đỗ Xuân B mức án từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng: Tịch thu hóa giá sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 promax màu đen, số IMEL: 353888102947893, lắp sim 0975.692.405 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu xanh, số IMEL1: 356525113979005, số IMEL 2: 356525113979013, lắp sim 0762303085; Lưu theo hồ sơ vụ án 01 phong bì niêm phong dán kín, mặt trước ghi: “USB thu giữ hình ảnh tại máy tính Laptop ASUS model FX505D của Đỗ Xuân B, sinh năm 1995 trú tại xã A, T2, T” và 01 phong bì niêm phong dán kín, mặt trước ghi: “Mẫu vật hoàn trả sau giám định 01 USB màu bạc nhãn hiệu Kingston, bên trong có chứa file ghi âm”; Trả lại 01 máy tính laptop nhãn hiệu ASUS màu đen, model FX 505D cho Công ty TNHH H; Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra giải quyết; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo Đỗ Xuân B khai và thừa nhận do bị chị T5 từ chối tình nghi ngờ chị T5 yêu người khác trong thời gian từ ngày 19/6/2022 đến ngày 30/6/2022 Đỗ Xuân B đã chỉnh sửa hình ảnh khỏa thân của chị T5 thực hiện gọi điện, gửi tin nhắn cho chị T5, tạo các tài khoản mạng xã hội facebook và đăng các bài viết có nội dung nói xấu, bôi nhọ, xúc phạm danh dự chị T5 lên 02 trang fanpage của Bệnh viện N2 nơi chị T5 đang làm việc nhằm mục đích uy hiếp tinh thần buộc chị T5 phải chuyển cho B số tiền 200.000.000 đồng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình mô tả, bị cáo không tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên.
Bị hại chị Lương Hồng T5 thừa nhận diễn biến vụ án như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, nhất trí với các nội dung luận tội của Kiểm sát viên; Về dân sự không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH Hee sung-Electronics Việt Hàn đề nghị được nhận lại tài sản mà Công ty đã giao cho Đỗ Xuân B sử dụng là 01 máy tính laptop nhãn hiệu ASUS màu đen, model FX 505D.
Khi được trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1 Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
2 Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của bị hại, người làm chứng được chứng minh bằng biên bản kiểm tra thiết bị điện tử, điện thoại và hình ảnh sao kê, biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật niêm phong, biên bản thực nghiệm hành vi, kết luận giám định số 5180/KL- KTHS ngày 05/10/2022 và bản dịch nội dung ghi âm mẫu giám định, biên bản đọc file ghi âm cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong thời gian từ ngày 19/6/2022 đến ngày 30/6/2022, Đỗ Xuân B đã thực hiện hành vi chỉnh sửa hình ảnh khỏa thân của chị T5, gọi điện thoại, gửi tin nhắn cho chị T5 và tạo ra các tài khoản mạng xã hội facebook để đăng các bài viết có nội dung nói xấu, bôi nhọ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm chị T5 lên trang fanpage của Bệnh viện nơi chị T5 đang làm việc nhằm mục đích uy hiếp tinh thần chị T5 chuyển cho B số tiền 200.000.000 đồng để chiếm đoạt. Hành vi của Đỗ Xuân B đã phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 170 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ. Điều 170 Bộ luật Hình sự quy định:
1. Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
......
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
Xét tính chất, mức độ, hậu quả, hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi phậm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, với thủ đoạn uy hiếp tinh thần làm bị hại lo sợ đã trình báo cơ quan chức năng can thiệp, tuy bị cáo chưa đạt được mục đích chiếm đoạt vì bị hại chưa chuyển tài sản nhưng hành vi đó gây ảnh hưởng đến trật tự và an toàn xã hội trên địa bàn và hoạt động chung của cơ quan nơi bị hại làm việc.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, mặt khác quá trình làm việc trước khi phạm tội bị cáo được Cơ quan chủ quản tặng nhiều Bằng khen vì đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, lỗi, hậu quả vụ án, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử cân nhắc áp dụng mức hình phạt phù hợp để bị cáo có điều kiện cải tạo và răn đe, phòng ngừa chung như đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.
Tại khoản 5 điều 170 Bộ luật Hình sự quy định về hình phạt bổ sung, song hiện nay bị cáo không có việc làm, thu nhập không ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
[5 Về vật chứng của vụ án: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 promax màu đen, số IMEL: 353888102947893, lắp sim 0975.692.405 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu xanh, số IMEL1: 356525113979005, số IMEL 2: 356525113979013, lắp sim 0762303085 là công cụ, phương tiện của bị cáo dùng để thực hiện tội phạm cần tịch thu hóa giá sung ngân sách nhà nước; 01 USB trong phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “ USB thu giữ hình ảnh tại máy tính Laptop USUS model FX505D của Đỗ Xuân B, sinh năm 1995 trú tại xã A, T2, T” và 01 USB màu bạc nhãn hiệu Kingston, bên trong có chứa file ghi âm trong phong bì niêm phong, mặt trước ghi:“Mẫu vật hoàn trả sau giám định 01 USB màu bạc nhãn hiệu Kingston, bên trong có chứa file ghi âm” là vật chứng sẽ lưu theo hồ sơ vụ án. Đối với 01 máy tính laptop nhãn hiệu ASUS màu đen, model FX 505D là tài sản của Công ty TNHH H giao cho Đỗ Xuân B sử dụng phục vụ công việc nay có Công ty yêu cầu nhận lại nên trả cho Công ty TNHH H là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Lương Hồng T5 không yêu cầu bị cáo bồi thường khoản gì khác nên không đặt ra giải quyết.
[7 Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50; Điều 54 Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Xuân B phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đỗ Xuân B 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.
3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra giải quyết.
4. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 promax màu đen, số IMEL: 353888102947893, lắp sim 0975.692.405 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu xanh, số IMEL1: 356525113979005, số IMEL 2: 356525113979013, lắp sim 0762303085.
Lưu theo hồ sơ vụ án: 01 USB trong phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “USB thu giữ hình ảnh tại máy tính Laptop USUS model FX505D của Đỗ Xuân B, sinh năm 1995 trú tại xã A, T2, T” và 01 USB màu bạc nhãn hiệu Kingston, bên trong có chứa file ghi âm trong phong bì niêm phong dán kín, mặt trước ghi:“Mẫu vật hoàn trả giám định 01 USB màu bạc nhãn hiệu Kingston, bên trong có chứa file ghi âm”.
Trả lại cho Công ty TNHH H, Địa chỉ: Lô đất G1 - Khu công nghiệp T6, xã L, huyện A1, thành phố H1 01 máy tính laptop nhãn hiệu ASUS màu đen, model FX 505D.
(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố Thái Bình và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình ngày 30/11/2022).
5. Về án phí: Bị cáo Đỗ Xuân B phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 06/01/2023).
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng; - Tòa án ND tỉnh TB; - VKSND tỉnh Thái Bình; - VKSND TP Thái Bình; - Cơ quan CSĐT Công an TP Thái Bình; - Cơ quan THAHS Công an TP Thái Bình; - Chi cục THADS TP Thái Bình; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hồng Sơn |