- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Viết M1 tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ k…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết M1 phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG NINH ––––––––––––––– Bản án số: 02/2023/HS-ST Ngày: 04 - 01 - 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Đỗ Thị Hương Lan.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Giang
Ông Nguyễn Thế Căn
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Lâm- Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Hùng Vĩ - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 01 năm 2023 tại Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 141/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 134/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Viết M1; tên gọi khác: không; sinh ngày 24/3/1991 tại Thanh Hóa; Nơi thường trú: thôn N1, xã T1, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Viết Đ1 và bà Cao Thị H1; có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: chưa. Nhân thân: ngày 26/3/2020 bị Công an huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt hành chính 2.500.000đ về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe của người khác”; ngày 26/8/2020 bị Công an xã T1, huyện Thiệu Hóa xử phạt hành chính 1.500.000đ về hành vi “Đánh bạc”. Bị cáo bị bắt ngày 26/5/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Phạm Văn B1, sinh năm 1990 và Phạm Văn Cường, sinh năm 1995; nơi thường trú: thôn N2, xã T1, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do mâu thuẫn trong việc nợ tiền giữa anh Tống T1 và Phạm Văn B1 nên B1 đã rủ Nguyễn Viết M1 đi từ Thanh Hóa ra Móng Cái, Quảng Ninh để gặp anh T1 đòi tiền, mặt khác do anh T1 cũng nợ tiền M1 nên M1 đồng ý đi cùng B1. Ngày 25/5/2022, B1 điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 36A-181.38 đến đón M1. Trước khi đi M1 lấy quần áo, một khẩu súng có 05 viên đạn và 01 lưỡi lê ba cạnh cho vào túi xách rồi mang đi cùng B1. Khoảng 13 giờ ngày 26/5/2022, B1 và M1 đến khu vực lán công nhân thuộc khu Đông Thịnh, phường Trà Cổ, thành phố Móng Cái gặp anh T1 đòi nợ nhưng không đòi được, hai bên xảy ra cãi nhau. B1 ghì cổ anh T1. M1 dùng cùi trỏ trái đánh vào lưng anh T1 mấy cái. Lúc đó anh Tống Đ2 và Tống T2 (là anh họ và anh ruột của T1) cầm xẻng và nhặt gạch ở vỉa hè chạy đến. M1 chạy ra xe ô tô của B1 lấy chiếc lưỡi lê trước đó để ở ghế phụ chạy đến gần anh T2 giơ lên đe dọa. Anh T2 ném gạch trúng vào người M1 nên M1 đã chạy đến dùng lưỡi lê đâm 02 nhát vào tay trái và đùi anh T2 rồi bỏ chạy ra xe ô tô của B1. Anh Đ2 và một số người cầm xẻng, gạch đá đuổi theo. M1 bỏ chạy ra đường, giấu lưỡi lê vào người rồi bắt tắc xi đi về thành phố Hạ Long. Khi đi đến trạm km15 thì bị Công an kiểm tra phát hiện M1 cất giấu 01 lưỡi lê nên đã đưa M1 về Công an thành phố Móng Cái làm việc.
Quá trình làm việc tại hiện trường khu vực lán công nhân thuộc khu Đông Thịnh, phường Trà Cổ, thành phố Móng Cái, cơ quan điều tra đã kiểm tra, thu giữ trong cốp xe ô tô BKS 36A-181.38 có 01 túi xách bên trong có quần áo, 01 khẩu súng và 05 viên đạn.
Tại Bản kết luận giám định số 848/KLGĐ ngày 29/5/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: 01 khẩu súng là súng tự chế kiểu ổ quay, thuộc vũ khí quân dụng, hiện còn sử dụng để bắn được; 05 viên đạn là đạn thể thao cỡ (5,6x15,5) mm, hiện tại còn sử dụng để bắn được cho khẩu súng trên.
Hành vi của Nguyễn Viết M1 dùng lưỡi lê đâm gây thương tích cho anh Tống T2, qua giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể là 09%. Cơ quan điều tra Công an thành phố Móng Cái đã tách vụ án, sau đó đình chỉ điều tra do bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố.
Quá trình điều tra Nguyễn Viết M1 đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu. Về nguồn gốc khẩu súng và 05 viên đạn, M1 khai: trước đó năm 2017 M1 mua bên nước Lào với giá 6 triệu đồng mang về cất giấu.
- Vật chứng và đồ vật, tài sản tạm giữ:
+ Mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm 01 khẩu súng tự chế kiểu ổ quay và 03 viên đạn, Cơ quan điều tra đã chuyển đến Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ninh để quản lý theo quy định của pháp luật.
+ Toàn bộ tài sản cùng các đồ vật liên quan đến vụ án (có biên bản chi tiết kèm theo) được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái để quản lý trong thời gian chờ xử lý theo quyết định của Tòa án.
Bản Cáo trạng số 174/CT-VKSQN-P1 ngày 23/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Viết M1 về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Viết M1 thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Bản Cáo trạng đã nêu. M1 xác định việc bị cáo mua, cất giấu và mang theo súng, đạn, lưỡi lê đi cùng B1 ra Móng Cái, Quảng Ninh là chủ ý của bị cáo. B1 không biết. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho B1 xe ô tô và giấy tờ kèm theo; trả lại cho bị cáo 02 chiếc điện thoại và sạc điện thoại không liên quan đến hành vi phạm tội, còn 1 số đồ dùng cá nhân khác như quần áo và túi xách bị cáo không có nhu cầu được nhận lại.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Phạm Văn B1 có lời khai: ngày 26/5/2022 anh mượn xe ô tô BKS 36A- 181.38 của em trai anh là Phạm Văn Cường để chở Nguyễn Viết M1 ra Móng Cái gặp anh T1 đòi nợ. Đến lán công nhân thuộc khu Đông Thịnh, phường Trà Cổ, thành phố Móng Cái nơi anh T1 đang ở, hai bên xảy ra xô sát, M1 dùng lưỡi lê đâm anh Tống T2 và bỏ chạy. Khám xe ô tô do B1 điều khiển, trong cốp xe có 1 túi xách vải màu đỏ bên trong đựng quần áo của M1 và 01 khẩu súng, 05 viên đạn. Đây là vật dụng của M1, anh hoàn toàn không biết. Anh đề nghị cho anh xin lại giấy phép lái xe, 01 điện thoại di động là tài sản riêng của anh; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử trả lại xe ô tô cùng giấy tờ xe cho em trai anh là Phạm Văn Cường.
Tại phiên tòa, anh Phạm Văn Cường trình bày: ngày 26/5/2022 anh cho anh trai là Phạm Văn B1 mượn xe ô tô BKS 36A-181.38 để chở M1 đi Quảng Ninh. Sau đó anh được biết khi đến phường Trà Cổ, Móng Cái, Quảng Ninh thì M1 gây ẩu đả với một số đối tượng và gây thương tích cho 01 người. Sau khi M1 bỏ chạy, cơ quan Công an đã yêu cầu Phạm Văn B1 về trụ sở làm việc, tại đây phát hiện trên xe có 01 túi xách là hành lý của M1. Trong túi xách có 01 khẩu súng và đạn. Phạm Văn B1 không biết trong túi xách của M1 có chứa vũ khí. B1 đã bị Công an thành phố Móng Cái xử phạt hành chính về hành vi cùng M1 gây thương tích cho người khác. Tại phiên tòa anh Cường đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc xe ô tô cùng toàn bộ giấy tờ xe cho anh là chủ sở hữu.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Viết M1 từ 36 đến 42 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
Về xử lý vật chứng: đề nghị giao vật chứng là 01 khẩu súng và 03 viên đạn cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ninh để xử lý theo quy định.
Tịch thu tiêu hủy: 01 lưỡi lê ba cạnh và 01 vỏ bao giả da màu nâu vàng kích thước (30x4,5)cm, đầu bao nhọn, mặt trước có 01 cúc bấm đã qua sử dụng; toàn bộ đồ dùng là quần áo, 01 túi vải màu trắng, 01 túi xách bằng vải màu đỏ.
Trả cho anh Phạm Văn Cường, sinh năm 1995; địa chỉ: N2, xã T1, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa là chủ sở hữu hợp pháp của xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Grand màu đen BKS 36A-181.38: 01 xe ô tô và giấy tờ kèm theo gồm giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 100404; 01 giấy chứng nhận kiểm định số KD6907208; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện của chủ xe ô tô số AD21/0105332.
Trả cho Phạm Văn B1, sinh năm 1990; địa chỉ: N2, xã T1, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa: 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C số 380154013021 mang tên Phạm Văn B1 cấp ngày 14/5/2020; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S8+ màu vàng gắn sim số 0374490609.
Trả lại cho Nguyễn Viết M1: 01 sạc điện thoại; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu vàng gắn 01 sim số 0339888686; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu ghi đen gắn 01 sim số 0967185221;
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội mà kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa. Nói lời sau cùng, bị cáo ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung đã khai nhận tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định cùng với các tài liệu chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy đủ căn cứ để kết luận bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau: ngày 26/5/2022, tại khu Đông Thịnh, phường Trà Cổ, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Viết M1 có hành vi tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng và 05 viên đạn thể thao sử dụng được cho khẩu súng trên thì bị Công an phát hiện, thu giữ. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự năm 2015 đúng với nội dung Bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
Về tính chất mức độ của hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng của Nhà nước mà còn có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng về tính mạng sức khỏe và tài sản của người khác. Bị cáo biết, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng là vi phạm pháp luật, bất cứ người nào khi có vũ khí quân dụng thì phải giao nộp cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để quản lý theo quy định, bị cáo trong vụ án này lại lựa chọn xử sự khác. Năm 2017, bị cáo sang nước Lào mua 01 khẩu súng và 05 viên đạn, bị cáo đem về nhà cất giấu. Ngày 26/5/2022 khi được B1 rủ đi Móng Cái, Quảng Ninh thì bị cáo đã cho vào hành lý đem theo, hành vi này của bị cáo thể hiện tính xem thường pháp luật. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng để răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: không có. Tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu: ngày 26/3/2020 bị Công an huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt hành chính 2.500.000đ về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe của người khác”; ngày 26/8/2020 bị Công an xã T1, huyện Thiệu Hóa xử phạt hành chính 1.500.000đ về hành vi “Đánh bạc”, bị cáo không lấy đây làm bài học cho bản thân để có thái độ hành xử đúng mực trong cuộc sống. Ngay sau khi được B1 rủ đi Móng Cái Quảng Ninh đòi nợ, bị cáo chuẩn bị lưỡi lê, giấu súng đạn vào túi hành lý đem theo. Tại phường Trà Cổ, thành phố Móng Cái, bị cáo dùng lưỡi lê gây thương tích cho anh Tống T2. Mặc dù hành vi này không bị xử lý theo quy định của Bộ luật Hình sự do anh T2 có đơn rút yêu cầu khởi tố. Tuy nhiên đây cũng là một trong những yếu tố để Hội đồng xét xử đánh giá tính chấp hành pháp luật của bị cáo từ đó xem xét, quyết định mức hình phạt phù hợp với nhân thân, điều kiện phạm tội của bị cáo.
- Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: xét thấy, bị cáo không có tài sản, không có thu nhập, nên đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo là có căn cứ nên được chấp nhận.
Về xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra cơ quan điều tra thu giữ và chuyển giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ninh 01 khẩu súng tự chế kiểu ổ quay và 03 viên đạn được hoàn lại sau giám định; chuyển giao cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Móng Cái một số đồ vật, tài sản (có biên bản chi tiết kèm theo), sẽ được xử lý như sau: 01 khẩu súng tự chế kiểu ổ quay và 03 viên đạn là tang vật của vụ án nên cần giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ninh xử lý theo quy định pháp luật. Đối với một số tài sản đồ vật thu giữ của bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là giấy tờ, tài sản cá nhân, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp. 01 lưỡi lê và 01 vỏ bao đựng là vật cấm tàng trữ, không có giá trị, không sử dụng được nên tịch thu tiêu hủy.
Hành vi của Nguyễn Viết M1 tàng trữ 01 lưỡi lê là vũ khí thô sơ gây thương tích cho anh Tống T2, đã bị Công an thành phố Móng Cái đã xử phạt hành chính 10.500.000đ. Đối với Phạm Văn B1 có hành vi gây thương tích cho anh Tống T1, do anh T1 viết đơn xin rút yêu cầu khởi tố, Công an thành phố Móng Cái đã xử lý hành chính; vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập.
Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết M1 phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”;
Áp dụng: khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Viết M1 36 (ba mươi sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 26/5/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1; điểm a, c khoản 2; điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ Giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ninh: 01 khẩu súng tự chế ổ quay và 03 viên đạn, để xử lý theo quy định pháp luật. (Theo biên bản giao nhận súng pháo khi tài giữa Cơ quan an ninh điều tra công an tỉnh Quảng Ninh và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ninh lập ngày 10/9/2022- BL 359)
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 lưỡi lê ba cạnh chiều dài 40cm, phần lưỡi bằng kim loại màu trắng sáng, dạng xoắn ba cạnh, mũi sắc nhọn dài 29cm, đã qua sử dụng; 01 vỏ bao giả da màu nâu vàng, kích thước (30x4,5)cm, đầu bao nhọn, mặt trước có cúc bấm, đã qua sử dụng; 01 túi vải màu trắng kích thước (39x22,5)cm; 01 túi xách bằng vải màu đỏ kích thước (45x25x23)cm; số quần áo được thống kê trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/11/2022;
+ Trả lại cho anh Phạm Văn Cường, sinh năm 1995; địa chỉ: N2, xã T1, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa là chủ sở hữu hợp pháp của xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Grand màu đen BKS 36A-181.38: 01 xe ô tô và giấy tờ kèm theo gồm giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 100404; 01 giấy chứng nhận kiểm định số KD6907208; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện của chủ xe ô tô số AD21/0105332.
+ Trả cho Phạm Văn B1, sinh năm 1990; địa chỉ: N2, xã T1, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa: 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C số 380154013021 mang tên Phạm Văn B1 cấp ngày 14/5/2020; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S8+ màu vàng gắn sim số 0374490609.
+ Trả lại cho Nguyễn Viết M1: 01 sạc điện thoại di động màu trắng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu vàng gắn 01 sim số 0339888686; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu ghi đen gắn 01 sim số 0967185221.
(Vật chứng nêu trên tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng số 32/2023/THA ngày 30 tháng 11 năm 2022 giữa Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Móng Cái).
Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016, quy định về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Viết M1 phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: áp dụng khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1, 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND thành phố Móng Cái; - Đội hồ sơ nghiệp vụ CA thành phố Móng Cái; - CCTHADS thành phố Móng Cái; - Cơ quan quản lý TG, TG CA thành phố Móng Cái; Công an tỉnh Quảng Ninh; - Bị cáo; người có qlnvlq; - THA, Lưu VP, hồ sơ. Các Hội thẩm nhân dân Nguyễn Văn Giang Nguyễn Thế Căn | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Hương Lan Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đỗ Thị Hương Lan |