vanban.org

Bản án 02/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định Tuyên án 16/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự buộc Đào Văn C và Nguyễn Đức Đ liên đới bồi thường số tiền 2.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đàoo Văn C - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự buộc Đào Văn C và Nguyễn Đức Đ liên đới bồi thường số tiền 2.
  • Căn cứ chính? Điều 17 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 173 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Ý YÊN
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2023/HS-ST
Ngày: 16 - 01 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Trọng Tảo.

2. Bà Trương Thị Dung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nam – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.

- Đại diện VKSND huyện Ý Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Cấp – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Ý Yên tỉnh Nam Định, mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 106/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2023/QĐXXST - HS ngày 03 tháng 01 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Đào Văn C, sinh năm 1983 tại xã P, huyện Y, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Đội 12, xã P, huyện Y, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; trình độ văn hoá: 12/12; con ông Đào Văn T, sinh năm 1954 (đã chết) và bà Mai Thị H, sinh năm 1960 trú tại đội 12, xã P, huyện Y, tỉnh Nam Định; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là thứ nhất; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Theo Quyết định 02/2020/QĐ-TA ngày 25/02/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định ra quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng, ngày 01/3/2022 chấp hành xong; nhân thân: Ngày 15/10/2008 bị Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Theo Quyết định số 08/2016/QĐ-TA ngày 30/6/3016 của Tòa án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng, ngày 06/7/2018 chấp hành xong. Biện pháp ngăn chặn: bị bắt tạm giam từ ngày 26/9/2022. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Ý Yên. Có mặt.

2. Họ và tên: Nguyễn Đức Đ, sinh năm 1994 tại xã P2, huyện Y, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Thôn D, xã P2, huyện Y, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; trình độ văn hoá: 6/12; con ông Nguyễn Đức H, sinh năm 1963 (đã chết) và bà Đào Thị V, sinh năm 1965 trú tại thôn D, xã P2, huyện Y, tỉnh Nam Định; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Lê Thị Thanh C, sinh năm 1993; con: có 01 con sinh năm 2017; Tiền án; Tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn: bị bắt tạm giam từ ngày 23/9/2022. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Ý Yên. Có mặt.

* Bị hại: - Ông Đỗ Quý M, sinh năm 1963;

- Bà Bùi Thị Cần, sinh năm 1963;

Người đại diện theo ủy quyền của ông M, bà Cần: Chị Nguyễn Thị Thu Hương, sinh năm 1984;

Cùng địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Nam Định. Vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Hoàng Thị Hiếu, sinh năm 1970;

Địa chỉ: Tổ 8, thị trấn L, huyện Y, tỉnh Nam Định. Vắng mặt.

* Người làm chứng:

- Ông Đỗ Văn V, sinh năm 1970. Vắng mặt.

- Anh Đỗ Quang Đ, sinh năm 1979. Vắng mặt.

- Ông Mai Văn T, sinh năm 1967. Vắng mặt.

- Chị Trần Thị H, sinh năm 1979. Vắng mặt.

- Anh Nguyễn Quý T, sinh năm 1993. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đào Văn C và Nguyễn Đức Đ đều là đối tượng nghiện ma túy, do không có tiền tiêu xài cá nhân nên chiều ngày 03/8/2022 rủ nhau đi trộm cắp tài sản. Đ đến nhà mẹ vợ bà Nguyễn Thị M tại thôn Đ, xã B để mượn xe mô tô Honda Blade BKS 18D1-451.98 của anh Lê Văn T - đồng hao với Đ. Sau khi mượn được xe Đ điều khiển xe đến đón Đ ở xã P rồi theo trục đường đường dân sinh dọc theo đường cao tốc Pháp Vân - cầu Giẽ đến địa phận xã T và nhìn thấy một trang trại ở ngoài cánh đồng của gia đình ông Đỗ Quý M. Đ dừng xe, Đ trèo qua tường vào trong trang trại sau đó đi ra ngoài nói với Đ “Thấy tiền rồi, về thôi tối lên lấy”, sau đó cả hai về nhà. Đến khoảng 23h cùng ngày Đ đi xe mô tô BKS 18D1-451.98 đến đón Đ, trên đường đi Đ thấy bao đựng rác bên lề đường nên đổ rác ra, rồi cầm bao đi đến trang trại của gia đình ông M. Đến nơi Đ dừng xe phía bên ngoài, Đ trèo qua trường rào đột nhập vào trước, Đ đột nhập trèo vào sau, cả hai cùng nhau bắt ngỗng đang thả ở vườn cây phía trong trang trại cho vào bao, bắt được 06 con ngỗng thì cả hai bê bao đựng ngỗng trèo ra ngoài cho lên xe và đi theo lối đường Thành - Xá về khu vực ngã tư Phố Cháy thị trấn L dừng trước cửa nhà chị Hoàng Thị H làm nghề mua, bán gia cầm bán được số tiền 1.100.000 đồng. Sau khi cầm tiền Đ và Đ về cánh đồng thuộc địa phận xã C ngồi chơi đến khoảng 02 giờ ngày 04/8/2022 lại tiếp tục điều khiển xe máy đi đến trang trại của ông M để tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp ngỗng, đến nơi Đ trèo vào trước, Đ trèo vào sau cả hai bắt tổng cộng được 10 con ngỗng bỏ vào bao rồi bê ra ngoài đặt lên xe về nhà bán cho chị Hoàng Thị H được số tiền 1.400.000 đồng. Đ và Đ chia nhau số tiền bán Ngỗng cả hai lần và Đ điều khiển xe máy đưa Đ về nhà còn Đ cũng đi về nhà mình. Cùng ngày 04/8/2022 Đ mang xe mô tô trả cho bà Nguyễn Thị M.

Sau khi tiếp nhận tin báo tội phạm, cơ quan CSĐT - Công an huyện Ý Yên, công an xã Ttiến hành khám nghiệm hiện trường, thu thập các tài liệu, chứng cứ. Quá trình điều tra làm rõ hành vi của Đào Văn C, Nguyễn Đức Đ như nêu trên. Chị Hoàng Thị H đã trực tiếp mang 16 con ngỗng trả cho gia đình ông Đỗ Quý M và cân trọng lượng số ngỗng trên được 60kg.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 14/ĐGTS ngày 11/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện Y kết luận: Sau khi nghiên cứu hồ sơ của cơ quan CSĐT công an huyện Ý Yên cung cấp và Biên bản định giá tài sản ngày 11/8/2022, Hội đồng định giá nhất trí giá trị của 16 con ngỗng là 7.800.000 đồng.

Ngày 22/9/2022 cơ quan CSĐT - Công an huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Đào Văn C và Nguyễn Đức Đ về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Vật chứng của vụ án: 01 USB có chứa nội dung video việc Đào Văn C và Nguyễn Đức Đ bán 16 con ngỗng do trộm cắp cho chị Hoàng Thị H được niêm phong bỏ trong phong bì thư kèm theo hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Đối với 16 con ngỗng có trọng lượng 60kg, tại thời điểm phạm tội có giá 7.800.000 đồng. Ông Đỗ Quý M đã nhận lại đủ số tài sản bị trộm cắp, không có yêu cầu, đề nghị bồi thường gì khác về dân sự, cơ quan CSĐT

- Công an huyện Ý Yên không đề cập giải quyết.

Đối với chị Hoàng Thị H đã có hành vi mua 16 con ngỗng của Đào Văn C và Nguyễn Đức Đ với số tiền 2.500.000 đồng. Tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ để xác định trước khi mua ngỗng, chị H có bàn bạc thống nhất hay hứa hẹn trước về việc tiêu thụ tài sản hay không hoặc khi mua chị H có biết đó là tài sản do phạm tội mà có hay không. Vì vậy, cơ quan CSĐT - công an huyện Ý Yên tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý sau.

Đối với số tiền 2.500.000 đồng chị Hoàng Thị H đã trả cho Đ và Đ, chị H yêu cầu Đ và Đ hoàn trả lại số tiền nêu trên cho chị theo quy định của pháp luật.

Đối với bà Nguyễn Thị M và anh Lê Văn T không biết việc Đ mượn xe mô tô để cùng Đ thực hiện hành vi phạm tội, do vậy cơ quan CSĐT - công an huyện Ý Yên không đặt vấn đề giải quyết.

Đối với chiếc xe mô tô BKS 18D1-45198 mà Nguyễn Đức Đ mượn của bà Nguyễn Thị M nhưng là tài sản của anh Lê Văn T. Quá trình điều tra xác định không phải vật chứng vụ án vì vậy cơ quan CSĐT - công an huyện Ý Yên đã không tiến hành tạm giữ chiếc xe mô tô trên nên không đặt vấn đề giải quyết.

Tại cơ quan điều tra, Đào Văn C và Nguyễn Đức Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Bản Cáo trạng số: 04/CTr - VKS- YY ngày 28/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định truy tố Đào Văn C và Nguyễn Đức Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bị cáo Đào Văn C, Nguyễn Đức Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xác nhận bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội, không oan. Các bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Đại diện VKSND huyện Ý Yên trình bày quan điểm luận tội giữ nguyên nội dung Cáo trạng và đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự tuyên bố các bị cáo Đào Văn C, Nguyễn Đức Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt Đào Văn C từ 24 đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/9/2022.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Đức Đ từ 18 đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/9/2022.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Đối với Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Căn cứ các Điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự buộc Đào Văn C và Nguyễn Đức Đ liên đới bồi thường số tiền 2.500.000 đồng cho chị Hoàng Thị Hiếu (chia theo phần mỗi bị cáo phải bồi thường số tiền 1.250.000 đồng).

Các Bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, các bị cáo ăn năn hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ý Yên tỉnh Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Hành vi phạm tội của các bị cáo đã được chứng minh bằng lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay. Lời khai phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng; biên bản định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã được cơ quan điều tra thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với sự thật khách quan. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận: Đêm ngày 03/8/2022 và rạng sáng ngày 04/8/2022 lợi dụng sơ hở trong việc trông coi, quản lý tài sản của gia đình ông Đỗ Quý M tại thôn T xã T, huyện Y, tỉnh Nam Định. Đào Văn C và Nguyễn Đức Đ đã lén lút đột nhập vào trang trại lấy trộm 16 con ngỗng, có tổng trọng lượng 60kg, tài sản mà Đào Văn C, Nguyễn Đức Đ trộm cắp có giá trị 7.800.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên đã truy tố.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây nên tình hình mất trật tự trị an xã hội nói Đ, ảnh hưởng xấu đến phong trào bảo vệ an ninh ở địa phương, gây sự bất bình trong nhân dân. Vì muốn thoả mãn nhu cầu của cá nhân, coi thường pháp luật mà các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi của các bị cáo cần phải được xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa Đ.

Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án: Trong vụ án này có nhiều đối tượng tham gia nhưng không phân công vai trò, trách nhiệm cụ thể, các bị cáo cùng nhau thống nhất thực hiện một tội phạm nên xác định là đồng phạm giản đơn và có vai trò ngang nhau.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Đức Đ có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Đào Văn C có nhân thân xấu, hiện đang có 01 tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo sẽ được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Đức Đ phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo sẽ được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo khi quyết định hình phạt.

Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo; căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy: các bị cáo Đào Văn C, Nguyễn Đức Đ đều là đối tượng nghiện ma tuý, bị cáo Đ là người có nhân thân xấu, nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện mà lại tiếp tục có hành vi phạm tội. Trên cơ sở đề nghị của Kiểm sát viên và kết quả tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và có tác dụng giáo dục phòng ngừa Đ. Đồng thời đáp ứng được công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm xâm phạm quyền sở hữu mà Đảng và Nhà nước đề ra.

Hình phạt bổ sung: Các Bị cáo lao động tự do không có thu nhập ổn định, vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Đối với Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Căn cứ các Điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự buộc Đào Văn C và Nguyễn Đức Đ liên đới bồi thường số tiền 2.500.000 đồng cho chị Hoàng Thị H (chia theo phần mỗi bị cáo phải bồi thường số tiền 1.250.000 đồng) là tiền chị H trả tiền mua ngỗng cho C, Đ.

Đối với chị Hoàng Thị Hiếu đã có hành vi mua 16 con ngỗng của Đào Văn C và Nguyễn Đức Đ với số tiền 2.500.000 đồng. Tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ để xác định trước khi mua ngỗng, chị Hiếu có bàn bạc thống nhất hay hứa hẹn trước về việc tiêu thụ tài sản hay không hoặc khi mua chị Hiếu có biết đó là tài sản do phạm tội mà có hay không cơ quan CSĐT - công an huyện Ý Yên tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý sau nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, bị hại, người đại diện theo ủy quyền của bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 17 của Bộ luật Hình sự tuyên bố các bị cáo Đào Văn C, Nguyễn Đức Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đào Văn C 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/9/2022.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Đ 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/9/2022.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự buộc Đào Văn C và Nguyễn Đức Đ liên đới bồi thường số tiền 2.500.000 đồng cho chị Hoàng Thị H (chia theo phần mỗi bị cáo phải bồi thường số tiền 1.250.000 đồng) là tiền chị H yêu cầu các bị cáo trả lại tiền mua ngỗng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án.

Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại Khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

2. Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Bị cáo Đào Văn C, Nguyễn Đức Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo:

Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người đại diện theo ủy quyền của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ