vanban.org

Bản án 02/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 12/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Về trách nhiệm dân sự: bị cáo Lê Trung Ng có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho chị Nguyễn Thị Vân số tiền 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Trung Nghĩa- Nguyễn Minh Sang trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NG VIỆT NAM
THỊ XÃ TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2023/HS-ST
Ngày: 12-01-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NG VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa : ông Nguyễn Quốc Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân :

1. Ông Tạ Kỳ Trung;

2. Ông Nguyễn Văn An.

Thư ký phiên tòa: ông Trần Thế Sự - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Võ Trường Thọ - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 81/2022/HSST ngày 25 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2022/QĐXXST-HS ngày 30-12-2022 đối với các bị cáo:

1. Lê Trung Ng, sinh năm 1986, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi cư trú: ấp Phước H, xã Phước C, thị xã TB, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Thành (chết) và bà Nguyễn Thị Bảnh; vợ, con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 17/QĐ-XPHC ngày 13/3/2022 của Công an xã Phước Chỉ, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xử phạt Lê Trung Ng số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, đã nộp phạt. Bị cáo bị tạm giữ ngày 27/8/2022, tạm giam ngày 30/8/2022 tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh cho đến nay.(có mặt)

2. Nguyễn Minh S (tên gọi khác: Hùng), sinh năm 1986, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi cư trú: ấp Phước H, xã Phước C, thị xã TB, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Ngon (đã chết) và bà Nguyễn Thị Ngọc Chiếu; có vợ: Nguyễn Thị Kim Cương (đã ly hôn) và 01 người con sinh năm 2010; tiền án: không; tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 18/QĐ-XPHC ngày 13/3/2022 của Công an xã Phước Chỉ, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xử phạt Nguyễn Minh S số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, đã nộp phạt. Về nhân thân: tại Bản án số 50/2011 ngày 30/5/2011 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xử phạt Nguyễn Minh S 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/10/2022 tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh cho đến nay.(có mặt)

Bị hại:

1. Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1987, trú tại: ấp Phước H, xã Phước Chỉ, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.(có mặt)

2. Ông Lê Hoàng D, sinh năm 1966, trú tại: ấp Gò Ngãi, xã Phước B, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)

Người có quyền lợi, Ng vụ liên quan: anh Võ Văn M (tên thường gọi Út Min), sinh năm 1989, trú tại: ấp Phước Dân, xã Phước Chỉ, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 19 giờ ngày 27/8/2022, Công an thị xã Trảng Bàng bắt quả tang Lê Trung Ng đang tàng trữ trái phép 01 bịch nylon trong suốt có viền màu xanh, được bịt kín, bên trong có chứa tinh thể rắn trong suốt (nghi là chất ma túy, ký hiệu M) để trong vỏ bao thuốc lá hiệu Hero cất giấu trong túi quần phía trước bên trái của Ng tại khu vực phía trước khách sạn “Blue Star” thuộc khu phố Lộc Du, phường Trảng Bàng, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Thu giữ thêm một số vật chứng khác có liên quan.

Qua điều tra, chứng minh được như sau: vào khoảng 17 giờ ngày 27/8/2022, Lê Trung Ng điều khiển xe môtô biển số 86H6-7997 đến quán “1986” thuộc khu phố Lộc Du, phường Trảng Bàng, thị xã Trảng Bàng gặp người đàn ông tên “Chó”, khoảng 40 tuổi (không rõ họ tên, địa chỉ) để uống cà phê thì được người này cho 01 bịch nylon trong suốt có viền màu xanh, được bịt kín, bên trong có chứa chất ma túy. Ng lấy bịch chất ma túy để vào bên trong vỏ bao thuốc lá hiệu Hero, cất giấu trong túi quần bên trái rồi điều khiển xe môtô đi về; khi đến khu vực phía trước khách sạn “Blue Star” thì bị bắt quả tang.

Ngoài ra, Ng còn khai nhận đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thị xã Trảng Bàng, trong đó có 01 vụ thực hiện cùng với Nguyễn Minh S, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng 01 giờ ngày 17/5/2022, Ng điều khiển xe môtô biển số 86H6-7997 đến nhà chị Nguyễn Thị Vân thuộc ấp Phước H, xã Phước Chỉ, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh lấy trộm 01 cây mai vàng được trồng trong chậu xi măng phía trước nhà chị Vân. Sau đó, Ng mang mai trộm được đến xã Mỹ Quý Tây, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An bán cho người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) được số tiền 3.000.000 đồng, tiêu xài hết.

Vụ thứ hai: Vào khoảng 15 giờ ngày 17/6/2022, do có quen biết từ trước nên Ng rủ Nguyễn Minh S đi trộm mai để bán lấy tiền tiêu xài thì S đồng ý và phân công Ng là người đi tìm mai và chuẩn bị cưa, xà beng. Như đã hẹn, đến 01 giờ ngày 19/6/2022, Ng mang theo 01 cây cưa và 01 cây xà beng đi bộ đến nhà S, S dùng xe môtô biển số 70K7-4813 chở Ng đến khu vực đất mộ của gia đình ông Lê Hoàng Dũng thuộc ấp Gò Ngãi, xã Phước B, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh để trộm mai. Trên đường đi, Ng và S bàn bạc: Ng là người đào mai, tỉa cành; S dùng cưa cắt gọn phần rễ, khiêng mai ra đường và thống nhất cất giấu xe môtô tại hàng cây bạch đàn ven đường để không bị phát hiện. Khi đến nơi, Ng và S dùng cưa, xà beng cùng nhau đào trộm 04 cây mai của ông Dũng. Sau khi trộm được mai, Ng và S mỗi người mang 01 cây mai ra chỗ để xe để Ng chở về nhà, S quay vào tiếp tục mang mai ra cho Ng chở về. Đến ngày 22/6/2022, Ng mang 03 cây mai trộm được bán cho anh Võ Văn Minh được số tiền 4.500.000 đồng, Ng chia cho S số tiền 2.000.000 đồng; còn lại 01 cây mai, Ng trồng tại nhà của Ng.

- Kết luận giám định số 1048/KL-KTHS ngày 30/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: Mẫu tinh thể rắn trong suốt (ký hiệu M) là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,5334 gam.

- Kết luận định giá tài sản số 29/KL-HĐĐGTS ngày 13/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Trảng Bàng, kết luận: Cây mai vàng (trộm của chị Nguyễn Thị Vân) trị giá 30.000.000 đồng.

- Kết luận định giá tài sản số 32/KL-HĐĐGTS ngày 30/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Trảng Bàng, kết luận: 04 cây mai vàng (trộm của ông Lê Hoàng Dũng) trị giá 25.500.000 đồng.

Quá trình điều tra, các bị cáo thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản Cáo trạng số: 81/QĐ-KSĐT ngày 24 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Lê Trung Ng về tội “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm a, c khoản 2 Điều 173 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự;

Bị cáo Nguyễn Minh S về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát trong phần tranh luận đã giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh nêu trên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 173; điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm r, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Trung Ng từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tổng hợp hình phạt của hai tội theo quy định.

- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh S từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Xét thấy các bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Ng bồi thường thiệt hại cho bị hại và xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Về bào chữa: bị cáo Ng và S thống nhất với Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát, không có ý kiến gì bào chữa cho mình.

Về nói lời nói sau cùng: các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: bị hại Lê Hoàng Dũng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và người có quyền lợi, Ng vụ liên quan là Võ Văn Minh vắng mặt nH lời khai của họ đã có đầy đủ trong hồ sơ vụ án, việc xét xử vắng mặt những người này không ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên bị cáo và đại diện Viện kiểm sát đề nghị xét xử vắng mặt họ. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Trảng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, Ng vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về tội danh: trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên toà, bị cáo Lê Trung Ng và Nguyễn Minh S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo đúng nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Xét lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng, kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã chứng minh được như sau: vào ngày 17/6/2022, tại ấp Gò Ngãi, xã Phước B, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, Lê Trung Ng và Nguyễn Minh S đã lấy trộm 04 cây mai của ông Lê Hoàng Dũng với tổng trị giá là 25.500.000 đồng. Trước khi đi trộm, các bị cáo có bàn bạc thống nhất thời gian, địa điểm thực hiện, phân công vai trò cụ thể cho từng người để thực hiện việc trộm mai.

Riêng ngày 17/5/2022, tại ấp Phước H, xã Phước Chỉ, thị xã Trảng Bàng, Ng còn lấy trộm 01 cây mai của chị Nguyễn Thị Vân với trị giá là 30.000.000 đồng.

Tiếp tục đến 19 giờ ngày 27/8/2022, tại khu phố Lộc Du, phường Trảng Bàng, thị xã Trảng Bàng, Ng tàng trữ trái phép 0,5334 gam chất ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang.

Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Trung Ng phạm tội “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm a, c khoản 2 Điều 173; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Minh S phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng và nhân thân của các bị cáo:

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, xét thấy các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị cáo Ng tự khai ra hành vi trộm cắp tài sản; bị cáo Ng, S là bộ đội xuất ngũ; tại phiên tòa, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm r, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự sẽ được Hội đồng xét xử xem xét khi áp dụng hình phạt đối với từng bị cáo.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Lê Trung Ng phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với hành vi “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo S không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về nhân thân: bị cáo Ng và bị cáo S có 01 tiền sự về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy". Ngoài ra, bị cáo S đã từng bị kết án về hành vi "Mua bán trái phép chất ma túy".

Về tính chất của hành vi phạm tội và hình phạt:

Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của Lê Trung Ng và Nguyễn Minh S là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; ngoài ra, Ng còn trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nH vẫn thực hiện.

Trong vụ án này, hành vi trộm cắp tài sản của Lê Trung Ng và Nguyễn Minh S là đồng phạm có tổ chức, giữa các bị cáo có sự câu kết chặt chẽ, bàn bạc thống nhất thời gian, địa điểm thực hiện, phân công vai trò cụ thể. Bị cáo Ng là người rủ rê và trực tiếp thực hiện tội phạm 02 lần và có tiền sự về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” nên phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo S.

Bị cáo S với vai trò là đồng phạm cùng với Ng trực tiếp "Trộm cắp tài sản". Bị cáo S có nhân thân xấu, từng bị xử lý hình sự về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và có 01 tiền sự về về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo Lê Trung Ng và Nguyễn Minh S một mức án tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của từng bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét thấy các bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: căn cứ các Điều 47, 48 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xử lý như sau:

Về trách nhiệm dân sự:

- Cây mai của chị Nguyễn Thị Vân là do một mình bị cáo Ng trộm, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa chị Vân yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị cây mai là 30.000.000 đồng theo giá hội đồng định giá đã định. Tại phiên tòa, bị cáo Ng đồng ý bồi thường như chị Vân yêu cầu nên ghi nhận.

- Ghi nhận ông Lê Hoàng Dũng đã nhận lại các cây mai bị mất trộm và không yêu cầu bồi thường gì thêm;

- Ghi nhận anh Võ Văn Minh không yêu cầu các bị cáo trả lại số tiền mua mai là 4.500.000 đồng.

Về xử lý vật chứng:

- 01 gói niêm phong ghi vụ số 1048 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai và Trợ lý Nguyễn Thị Thùy Dương, bên trong có 01 bịch nylon chứa tinh thể rắn trong suốt (ký hiệu M), là chất ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,4451 gam (còn lại sau khi giám định), là vật cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy;

- 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Hero, đã qua sử dụng; 01 ống thủy tinh trong suốt dạng phễu, bên trong rỗng; 01 cây cưa bằng kim loại, lưỡi cưa dài 30cm, cán cưa bằng kim loại được bọc nhựa màu đen dài 15cm. Đây là các công cụ dùng vào việc phạm tội không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Ghi nhận các vật chứng khác của vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.

Về án phí: các bị cáo Ng, S, mỗi người phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và bị cáo Ng phải chịu 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đối với anh Võ Văn Minh không biết 03 cây mai mà Ng đem bán cho mình là tài sản do trộm cắp mà có nên không xem xét xử lý.

Đối với hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” của Lê Trung Ng đã bị Công an thị xã Trảng Bàng xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Đối với người đàn ông tên “Chó” và người đàn ông mà Ng khai nhận có liên quan đến việc tiêu thụ tài sản do trộm cắp mà có, hiện không rõ họ tên, địa chỉ và chưa làm việc được, Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 173; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Trung Ng 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 01 (một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ Điều 55 của Bộ luật hình sự, buộc bị cáo Ng phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 04 (Bốn) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 27/8/2022.

2. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh S (Hùng) 02 (Hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 20/10/2022.

3. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Về trách nhiệm dân sự: bị cáo Lê Trung Ng có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho chị Nguyễn Thị Vân số tiền 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Về vật chứng: tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong ghi vụ số 1048 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai và Trợ lý Nguyễn Thị Thùy Dương, bên trong có 01 bịch nylon chứa tinh thể rắn trong suốt (ký hiệu M), là chất ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,4451 gam (còn lại sau khi giám định); 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Hero, đã qua sử dụng; 01 ống thủy tinh trong suốt dạng phễu, bên trong rỗng; 01 cây cưa bằng kim loại, lưỡi cưa dài 30cm, cán cưa bằng kim loại được bọc nhựa màu đen dài 15cm.

4. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Ng, S, mỗi người phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và bị cáo Ng phải chịu 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại và người có quyền lợi, Ng vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ