- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Xuân V - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Các điểm a, b khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2023/HS-ST Ngày: 06 - 01 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Lợi.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Thanh Lam.
2. Ông Trịnh Ngọc Thành.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Chuyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Sơn Tùng – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ ý số 147/2022/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 153/2022/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2022/HSST-QĐ ngày 23 tháng 12 năm 2022, đối với bị cáo:
Phan Xuân V – sinh năm: 1968, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú trú: Tổ 6, khu 8, thị trấn TP, huyện TP, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Văn V1 – 1936 và bà Phạm Thị H2 – 1942; Vợ: Nguyễn Thị Thu – 1965; Con: Có 01 con sinh năm 1993; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/7/2022 đến nay. (có mặt)
- Bị hại:
+ Ông Bùi Phương Đ – sinh năm: 1979. (có mặt)
Địa chỉ: Ấp 2, xã PL, huyện TP, tỉnh Đồng Nai.
+ Bà Bùi Thị Thu Th – sinh năm: 1991. (có mặt)
Địa chỉ: Ấp 2, xã PL, huyện TP, tỉnh Đồng Nai
+ Ông Phạm Thế H – sinh năm: 1953. (có mặt)
Địa chỉ: Ấp PL, xã PL2, huyện TP, tỉnh Đồng Nai
+ Ông Trần Minh H1 – sinh năm: 1980. (có mặt)
Địa chỉ: Ấp Phú Lâm 1, xã Phú Sơn, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
+ Ông Nguyễn Đức T – sinh năm: 1984. (có mặt)
Địa chỉ: Tổ 2, ấp 1, xã TC, huyện TP, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Trần Phú S – sinh năm: 1968. (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu 1, thị trấn TP, huyện TP, tỉnh Đồng Nai
+ Bà Nguyễn Thị L – sinh năm: 1974. (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 6, ấp 4, xã TC, huyện TP, tỉnh Đồng Nai
+ Bà Trần Thị N – sinh năm: 1962. (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 3, ấp 5, xã TC, huyện TP, tỉnh Đồng Nai
+ Bà Trần Thị Tuyết Nh – sinh năm: 1968. (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp TL 1, xã PT, huyện TP, tỉnh Đồng Nai.
- Người làm chứng:
+ Bà Đặng Thị Kim L1 – sinh năm: 1975. (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu 6, thị trấn TP, huyện TP, tỉnh Đồng Nai.
+ Anh Võ Thế Ch – sinh năm: 1989. (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp 7, xã PT, huyện TP, tỉnh Đồng Nai.
+ Chị Trần Thị Mộng K – sinh năm: 1988. (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp 1, xã TC, huyện TP, tỉnh Đồng Nai.
+ Chị Nguyễn Thị Thanh T1 – sinh năm: 1992. (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 1, ấp 2, xã PL, huyện TP, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân nên vào đầu tháng 01/2022, Phan Xuân V đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng cách V giả danh mình tên “Dũng”, “Sơn giao thông”, “Quyết giao thông” làm việc tại công an huyện Tân Phú, công an huyện Định Quán để đưa ra thông tin có thanh lý xe mô tô giá rẻ. Nếu ai có nhu cầu thì liên hệ trực tiếp với V để đặt cọc bằng tiền và phô tô giấy chứng minh nhân dân cho V, sau đó V chiếm đoạt số tiền đặt cọc. Bằng thủ đoạn này từ tháng 01/2022 đến tháng 7/2022, V đã lừa đảo chiếm đoạt được tài sản của 05 bị hại, cụ thể như sau:
Vào ngày 17/01/2022, V sử dụng số điện thoại 0902.311.685 tự xưng tên là “Dũng” làm ở Công an huyện Tân Phú gọi vào số điện thoại của ông Trần Minh H1 giới thiệu có 01 xe máy hiệu Wave RS đời mới cần thanh lý với giá 7.600.000đ, nếu đồng ý mua thì đặt cọc trước số tiền 2.000.000đ và phô tô giấy chứng minh nhân dân để làm hồ sơ thì ông H1 đồng ý mua. V yêu cầu ông H1 mang tiền và giấy chứng minh nhân dân đến đưa cho bà Trần Thị N. Sau khi ông H1 giao tiền cho bà N xong thì điện thoại thông báo cho V biết rồi V đến gặp bà N lấy số tiền 2.000.000đ. Sau khi lấy tiền xong thì V không liên lạc với ông H1.
Vào ngày 16/5/2022, Phan Xuân V sử dụng số điện thoại 0902.311.685 gọi điện cho ông Nguyễn Đức T tự xưng là “Quyết giao thông ở huyện Định Quán” giới thiệu đang có xe mô tô thanh lý giá rẻ và giới thiệu có xe mô tô hiệu Wave RS trắng thanh lý với giá 6.800.000đ, xe Wave RS đỏ thanh lý giá 6.400.000đ, đồng ý mua thì đặt cọc trước số tiền 4.000.000đ và phô tô chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu đưa cho V làm hồ sơ thì ông T đồng ý mua. V yêu cầu ông T mang tiền giao cho 01 người phụ nữ đã lớn tuổi (không xác định được nhân thân, lai lịch) đẩy xe bán xôi trước cổng chợ thị trấn Tân Phú. Sau khi ông T giao tiền xong thì V đến gặp người phụ nữ này lấy tiền và cho người phụ nữ trên 50.000đ tiền công. Đến ngày 17/5/2022, V tiếp tục điện thoại yêu cầu ông T đưa thêm 1.000.000đ vào giao cho bà Trần Thị Tuyết Nh bán bún riêu ở gần Salon xe Trang Ninh thuộc xã Phú Thanh, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Sau đó, V nhờ 01 người đàn ông chạy xe ôm (không rõ nhân thân, lai lịch) đến nhận tiền và đưa cho bà Nh 50.000đ. Ngày 19/5/2022, V tiếp tục gọi điện thoại cho ông T nói đang thanh lý xe đạp điện với giá 2.500.000đ, đồng ý mua thì giao trước tiền, ông T đồng ý mua và tiếp tục giao tiền cho bà Nh. Ngày 20/5/2022, V yêu cầu ông T giao số tiền còn lại là 6.000.000đ và đưa cho bà Nh để hoàn tất hồ sơ thì ông T đồng ý. Sau đó, V đến gặp bà Nh lấy tiền và cho bà Nh 50.000đ. Ngày 22/5/2022, V điện thoại cho ông T giới thiệu là đang có 01 xe gắn máy loại 67 với giá 3.500.000đ, đang cần tiền nên bán lại với giá 2.500.000đ thì ông T đồng ý mua và tiếp tục được V yêu cầu giao tiền cho bà Nh sau đó V đến lấy tiền và cho bà Nh 50.000đ. Đến ngày 23/5/2022, ông T không nhận được xe như V đã hẹn và điện thoại cho V thì không liên lạc được nên mới biết bị V lừa.
Vào tháng 6/2022, ông Phạm Thế H được ông Trần Thanh Phong là bạn hành nghề xe ôm giới thiệu số điện thoại 0332.762.074 của 01 người tự xưng là “Dũng” làm bên giao thông có xe thanh lý giá rẻ. Sau đó, ông H điện thoại vào số điện thoại trên và gặp V thì được V giới thiệu là đang thanh lý xe mô tô hiệu Wave RSX, màu xanh với giá 6.000.000đ, đồng ý mua thì đặt cọc trước 2.500.000đ và phô tô căn cước công dân mang xuống cổng Ủy ban nhân dân huyện Tân Phú giao thì ông H đồng ý. Ông H đến Cổng Ủy ban nhân dân huyện Tân Phú và gọi điện thoại cho V thì V nói đang bận họp, sẽ có người đến lấy. Khoảng 10 phút sau, V trực tiếp gặp ông H lấy tiền và hẹn ít ngày giao xe. Sau đó ông H không liên lạc được với V nên mới biết bị lừa.
Đầu tháng 7/2022, V gặp 01 đối tượng tên Hùng (chưa rõ nhân thân, lai lịch ngụ xã Phú Bình, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai), cùng bàn bạc thống nhất với nhau lấy tên “Sơn giao thông” và tạo dựng thông tin giả đang thanh lý xe mô tô của Công an huyện Tân Phú với giá rẻ, yêu cầu đặt cọc tiền và phô tô giấy tờ, chứng minh nhân dân để làm hồ sơ nhằm chiếm đoạt tài sản của bị hại. Cụ thể vào ngày 19/7/2022, V và Hùng sử dụng số điện thoại 0395.978.726 gọi cho ông Bùi Phương Đ. V xưng với ông Đ là “Sơn giao thông” nói đang có xe thanh lý giá rẻ. Lúc này, ông Đ đặt vấn đề hỏi cần mua xe đạp điện thì V báo giá 2.500.000đ, đồng ý mua thì đặt cọc trước 1.500.000đ, phô tô 04 giấy chứng minh nhân dân để làm hồ sơ thì ông Đ đồng ý. V yêu cầu ông Đ giao tiền cho bà Nguyễn Thị L bán bánh cuốn trước cổng chùa Bửu Long thuộc thị trấn Tân Phú. Sau khi bà L nhận được tiền thì khoảng 03 giờ sáng ngày 20/7/2022, V đến gặp bà L lấy số tiền 1.500.000đ và cho bà L 100.000đ. Đến 09 giờ sáng cùng ngày, V gặp Hùng và đưa Hùng số tiền 1.400.000đ, Hùng đưa cho V 300.000đ. V và Hùng tiếp tục thông báo cho ông Đ là hiện đang có nhiều xe cần thanh lý, nhờ ông Đ có người mua thì giới thiệu. Ông Đ hỏi có xe Vision nào không thì V trả lời có 01 xe Vision mới thanh lý giá 18.000.000đ, người quen thì bớt 2.000.000đ còn 16.000.000đ nên ông Đ đã giới thiệu cho chị Bùi Thị Thu Th (em ruột ông Đ). Chị Thảo gọi vào số điện thoại của Hùng gặp V ngỏ ý muốn mua xe Vision thì V yêu cầu phô tô chứng minh nhân dân và đặt cọc trước 3.000.000đ. Sau đó, V nói chị Thảo giao tiền và giấy tờ cho bà L ở trước cổng chùa Bửu Long thuộc thị trấn Tân Phú. Sau khi bà L nhận được tiền thì V và Hùng gọi điện thoại cho ông Trần Phú S là người chạy xe ôm nhờ ông S đến gặp bà L lấy tiền và dặn ông S đưa cho bà L 100.000đ. Ông S nhận tiền xong thì báo cho Hùng và V biết, V yêu cầu ông S đưa đến trước cửa tiệm phô tô Mỹ Hạnh giao số tiền 2.900.000đ, V đưa cho ông S 100.000đ. Sau đó V đến gặp và đưa tiền cho Hùng, Hùng cho V 300.000đ, còn lại Hùng giữ.
Ngày 21/7/2022, Hùng và V tiếp tục gọi cho ông Đ giới thiệu đang có 02 xe cần thanh lý, 01 xe hiệu Wave @ giá 6.400.000đ; 01 xe hiệu Wave S giá 6.800.000đ. Khoảng 08 giờ cùng ngày, ông Đ nhờ chị Nguyễn Thị Thanh Quyền gọi vào số điện thoại của V và giới thiệu là bạn ông Đ ngỏ ý muốn mua xe Wave giá 6.800.000đ, V yêu cầu đặt cọc trước 1.500.000đ và yêu cầu chị Quyền giao tiền cho 01 người đàn ông chạy xe ôm trước cổng Tòa án nhân dân huyện Tân Phú thì chị Quyền đồng ý. Đến 10 giờ cùng ngày, V điện thoại cho ông S đến gặp người chạy xe ôm trước cổng Tòa án nhân dân huyện Tân Phú lấy tiền. Khi ông S chuẩn bị đi thì bị người dân vây bắt và đưa về trụ sở công an thị trấn Tân Phú làm việc. Sau đó, Công an thị trấn Tân Phú đã triệu tập Phan Xuân V đến để làm việc và V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu Nokia đã qua sử dụng, bên trong có gắn 02 sim thuê bao số: 0332.762.074; 0337.758.929; 01 điện thoại di động hiệu VIVO Y21, màu trắng; bên trong có gắn sim thuê bao số 0979.763.909; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A11 màu trắng, đã qua sử dụng bên trong có gắn sim số thuê bao 0974.909.100; số tiền 1.500.000đ (gồm 03 tờ Polime mệnh giá 500.000đ); số tiền 580.000đ; 01 đĩa DVD-R chứa nội dung 04 đoạn ghi âm; 10 tờ giấy A4 phô tô nhật ký cuộc gọi; 13 đoạn ghi âm cuộc hội thoại lưu giữ trong USB.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phan Xuân V đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình theo đúng nội dung vụ án nêu trên.
Bản cáo trạng số 152/CT-VKSTP-ĐN ngày 10 tháng 11 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Phan Xuân V về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai giữ quyền công tố luận tội và tranh luận; phân tích dấu hiệu phạm tội; đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đặc điểm nhân thân của bị cáo. Do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phan Xuân V về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Đề xuất mức án đối với bị cáo Phan Xuân V từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị buộc bị cáo bồi thường cho các bị hại là ông Nguyễn Đức T, ông Phạm Thế H, ông Trần Minh H1, ông Bùi Phương Đ và bà Bùi Thị Thu Th theo quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị:
Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia đã qua sử dụng, bên trong có gắn 02 sim thuê bao số 0332.762.074; 0337.758.929 của Phan Xuân V.
Trả lại ông Bùi Phương Đ số tiền 1.500.000đ vì đây là tài sản hợp pháp của ông Đ bị V chiếm đoạt.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu VIVO Y21, màu trắng; bên trong có gắn sim thuê bao số 0979.763.909 của bà Nguyễn Thị L; 01 điện thoại di động hiệu Sasung Galaxy A11 màu trắng, đã qua sử dụng bên trong có gắn sim số thuê bao 0974.909.100 của ông Trần Phú S. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phú đã trao trả cho chủ sở hữu vì đây là tài sản hợp pháp của bà L và ông S không liên quan đến việc phạm tội.
Đối với các thuê bao số 0395.978.726; 0332.762.047; 0902.311.685 của Phan Xuân V sử dụng để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phú có công văn số 500/CSĐT-ĐTTH ngày 08/8/2022 và công văn số 553/CSĐT-ĐTTH ngày 14/9/2022 gửi đến Ban thanh tra – Kiểm toán Tập đoàn viễn thông Quân đội đề nghị cung cấp thông tin thuê bao và nhật ký cuộc gọi. Tuy nhiên chưa có văn bản trả lời, khi nào có sẽ tiếp tục điều tra xử lý sau.
Đối với số tiền 800.000đ Phan Xuân V nhờ ông Trần Phú S lấy từ bà Đặng Thị Kim L1. Quá trình điều tra, V khai nhận đây là tiền V được cho từ việc môi giới đất đai, không liên quan đến việc phạm tội nên không xem xét xử lý.
Đối với đối tượng tên Hùng là người cùng thực hiện hành vi phạm tội với V. Quá trình điều tra V khai quen biết Hùng ngoài xã hội, có đặc điểm khoảng 55 đến 60 tuổi, dáng người cao, ngụ ở xã Phú Bình, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, đi xe mô tô hiệu Wave màu xanh có gắn giỏ trước xe. Cơ quan điều tra công an huyện Tân Phú đã tiến hành xác minh tại địa phương nhưng chưa phát hiện được đối tượng nào có đặc điểm như mô tả của V. Ngày 04/10/2022, Cơ quan điều tra công an huyện Tân Phú đã ra thông báo số 799/CQĐT-ĐTTH để truy tìm người liên quan đến vụ án, khi nào làm rõ được xử lý sau.
Đối với bà Nguyễn Thị L, ông Trần Phú S, bà Trần Thị N, bà Trần Thị Tuyết Nh được V nhờ nhận tiền dùm từ các bị hại nhưng không biết số tiền trên do V phạm tội mà có và sau khi sự việc được phát hiện đã tự nguyện giao nộp lại số tiền được V cho nên không xem xét xử lý.
Bị cáo nói lời sau cùng như sau: Bị cáo biết hành vi của mình là sai trái, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Phú, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Phan Xuân V thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai các bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định:
Do không có tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân nên trong khoảng thời gian từ đầu tháng 01/2022, Phan Xuân V nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác bằng cách V giả danh là cán bộ công an giao thông đang công tác tại huyện Tân Phú và huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, đưa ra thông tin có xe mô tô thanh lý giá rẻ. V thông tin ai có nhu cầu liên hệ trực tiếp với V để đặt cọc tiền và V chiếm đoạt số tiền đặt cọc. Bằng thủ đoạn trên trong khoảng thời gian từ tháng 01/2022 đến tháng 7/2022, V đã chiếm đoạt tài sản của 05 bị hại, cụ thể như sau:
- Ngày 17/01/2022, Phan Xuân V đã chiếm đoạt số tiền 2.000.000đ của ông Trần Minh H1.
- Ngày 16/5/2022 đến ngày 23/5/2022, Phan Xuân V đã chiếm đoạt số tiền 16.000.000đ của ông Nguyễn Đức T.
- Tháng 6/2022, Phan Xuân V đã chiếm đoạt số tiền 2.500.000đ của ông Phạm Thế H.
- Từ ngày 19/7/2022 đến ngày 21/7/2022, Phan Xuân V cùng với đối tượng tên Hùng (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đã bàn bạc thống nhất với nhau để chiếm đoạt tổng số tiền 6.000.000đ trong đó:
+ Ngày 19/7/2022 và ngày 21/7/2022, chiếm đoạt số tiền 3.000.000đ của ông Bùi Phương Đ.
+ Ngày 20/7/2022, chiếm đoạt số tiền 3.000.000đ của bà Bùi Thị Thu Th.
Tổng cộng số tiền Phan Xuân V đã chiếm đoạt tài sản của các bị hại nêu trên là 26.500.000đ.
Hành vi do bị cáo Phan Xuân V đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, nó trực tiếp xâm hại quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo thực hiện hành vi trên với lỗi cố ý. Bản thân bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Do đó bị cáo đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người đã trưởng thành và nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo không chỉ trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của các bị hại mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội của bị cáo cấu thành tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tại phiên tòa bị hại Tân xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt.
. Về hình phạt:
. Về hình phạt chính: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.
. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa, bị cáo và ông Nguyễn Đức T, ông Trần Minh H1, ông Phạm Thế H, ông Bùi Phương Đ, bà Bùi Thị Thu Th đã thỏa thuận được về việc bồi thường thiệt hại về tài sản. Cụ thể: Bị cáo tự nguyện bồi thường cho ông T số tiền 16.000.000đ, cho ông H1 số tiền 2.000.000đ, cho ông H số tiền 2.500.000đ, cho ông Đ số tiền 1.500.000đ, cho bà Th số tiền 3.000.000đ. Xét thấy sự thỏa thuận trên là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội, vì vậy Hội đồng xét xử ghi nhận.
. Về vật chứng vụ án:
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia đã qua sử dụng của Phan Xuân V, bên trong có gắn 02 sim thuê bao số: 0332.762.074; 0337.758.929. Xét đây là công cụ, phương tiện V sử dụng để lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Căn cứ vào quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
- Đối với số tiền 580.000đ thu giữ của bà Trần Thị Tuyết Nh, bà Nguyễn Thị L, ông Trần Phú S. Xét đây là tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội. Căn cứ vào quy định tại điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
- Đối với số tiền 1.500.000đ thu giữ khi bắt quả tang. Xét đây là tài sản hợp pháp của ông Bùi Phương Đ bị V chiếm đoạt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho ông Đ số tiền trên.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu VIVO Y21, màu trắng bên trong gắn sim thuê bao số 0979.763.909 của bà Nguyễn Thị L; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A11, màu trắng bên trong chứa sim thuê bao số 0974.909.100 của ông Trần Phú S. Xét đây là tài sản hợp pháp của bà L và ông S, không liên quan đến tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phú đã trao trả cho chủ sở hữu là phù hợp.
Đối với 01 đĩa DVD-R chứa nội dung 04 đoạn ghi âm; 10 tờ giấy A4 phô tô nhật ký cuộc gọi; 13 đoạn ghi âm cuộc hội thoại lưu giữ trong USB là tài liệu, chứng cứ chứng minh tội phạm nên được lưu giữ tại hồ sơ vụ án.
. Về các vấn đề khác:
Đối với bà Nguyễn Thị L, ông Trần Phú S, bà Trần Thị N, bà Trần Thị Tuyết Nh: Khi được Phan Xuân V nhờ nhận tiền dùm từ các bị hại thì không biết số tiền trên do V phạm tội mà có và sau khi vụ việc bị phát giác các đối tượng trên đã giao nộp lại số tiền được V cho nên không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự.
Đối với số tiền 800.000đ Phan Xuân V nhờ ông Trần Phú S lấy từ bà Đặng Thị Kim L1: Quá trình điều tra, V khai nhận đây là tiền V được cho từ việc môi giới đất đai, không liên quan đến hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên không xem xét xử lý.
Đối với đối tượng tên Hùng là người cùng thực hiện hành vi phạm tội với Phan Xuân V: Quá trình điều tra, V khai nhận quen biết Hùng ngoài xã hội, Hùng khoảng 55 đến 60 tuổi, ở xã Phú Bình, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai dáng người cao, đen, đi xe mô tô hiệu Wave màu xanh có gắn giỏ phía trước xe. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại địa phương nhưng không phát hiện đối tượng nào có đặc điểm như mô tả của V. Ngày 04/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phú đã ra Thông báo số 779/CQĐT-ĐTTH để truy tìm người liên quan đến vụ án, khi nào làm rõ được xử lý sau.
Đối với các sim thuê bao số 0395.978.726, 0332.762.047, 0902.311.685 của Phan Xuân V sử dụng để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản: Cơ quan điều tra đã có Công văn số 500/CSĐT-ĐTTH ngày 08/8/2022 và Công văn số 553/CSĐT-ĐTTH ngày 14/9/2022 gửi đến Ban Thanh tra – Kiểm toán Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội đề nghị cung cấp thông tin thuê bao và nhật ký cuộc gọi, tuy nhiên hiện chưa có văn bản trả lời. Khi nào có văn bản trả lời từ Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội sẽ tiếp tục điều tra, xử lý sau.
. Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, các điểm a, f khoản 1 Điều 23, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì bị cáo Phan Xuân V phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 1.325.000đ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
. Xét quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 38, các điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự;
- Khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 589 Bộ luật dân sự;
- Các điểm a, b khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Các điểm a, f khoản 1 Điều 23, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên bố: Bị cáo Phan Xuân V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Phan Xuân V 02 (hai) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22 tháng 7 năm 2022.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận bồi thường thiệt hại về tài sản giữa bị cáo và các bị hại, cụ thể: Bị cáo Phan Xuân V tự nguyện bồi thường cho bị hại Nguyễn Đức T số tiền 16.000.000đ (Mười sáu triệu đồng), cho bị hại Trần Minh H1 số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng), cho bị hại Phạm Thế H số tiền 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng), cho bị hại Bùi Phương Đ số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng), cho bị hại Bùi Thị Thu Th số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia đã qua sử dụng, bên trong có gắn 02 sim thuê bao số 0332.762.074 và 0337.758.929 (Theo biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 14/11/2022).
- Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước số tiền 580.000đ (Năm trăm tám mươi nghìn đồng). Trả lại cho ông Bùi Phương Đ số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng). (Theo biên lai thu tiền số 0000082 ngày 14/11/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai).
Về án phí: Buộc bị cáo Phan Xuân V phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 1.325.000đ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Tổng cộng là 1.525.000đ (Một triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
Về quyền kháng cáo: Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo, bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Tân Phú; - CQCSĐT Công an huyện Tân Phú; - Chi cục THADS huyện Tân Phú; - Lưu hồ sơ vụ án – VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Mai Văn Lợi |