vanban.org

Bản án 02/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 10/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2/ Tuyên phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Tr 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc từ ngày bị bắt để chấp hành án. 3/ Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng Tr trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ TÚ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2023/HS-ST
Ngày: 10 - 01 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Anh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Kiệt.

Ông Đặng Duy Tân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Quốc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Võ Thanh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 33/2022/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2022/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Hoàng Tr (Tên gọi khác: Không có), sinh ngày 01-01-1985 tại huyện MT, tỉnh Sóc Trăng. Nơi đăng ký thường trú: Ấp TH, xã LH, huyện MT, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Th và bà Nguyễn Thị Ch; anh chị em ruột: 06 người (bị cáo thứ tư); Vợ Nguyễn Minh T và 02 người con (lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2008).

Tiền án: Không có.

Tiền sự: Có 01 tiền sự.

Ngày 05-7-2021 bị Công an xã LH, huyện MT, tỉnh Sóc Trăng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” số tiền 750.000 đồng (đến nay chưa chấp hành xong).

Bị cáo bị khởi tố ngày 07-9-2022 và áp dụng biện pháp ngăn chặn“Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 07-9-2022 cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Kim Ng, sinh năm 1987. (Có mặt)

Nơi cư trú: Ấp TH, xã LH, huyện MT, tỉnh Sóc Trăng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Nguyễn Hoàng G, sinh năm 1974. (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp TH, xã LH, huyện MT, tỉnh Sóc Trăng.

2/ Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1953. (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp TH, xã LH, huyện MT, tỉnh Sóc Trăng.

3/ Ông Ngô Quốc S, sinh năm 1977. (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp CT, thị trấn M, huyện MX, tỉnh Sóc Trăng.

4/ Bà Nguyễn Thị Ng1, sinh năm 1987. (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Số 314, đường ĐBP, khóm M, phường S, TP.Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 đến 16 giờ ngày 27 tháng 7 năm 2022 bị cáo Nguyễn Hoàng Tr, sinh năm 1985, nơi cư trú: Ấp TH, xã LH, huyện MT, tỉnh Sóc Trăng ở nhà một mình tại ấp TH, xã LH, huyện MT, tỉnh Sóc Trăng. Do muốn có tiền trả nợ nên bị cáo nảy sinh ý định lấy xe mô tô biển số 83M1 - 093… của Nguyễn Thị Kim Ng (em ruột của bị cáo) sinh năm 1987 ngụ cùng ấp đem đi cầm để trả nợ, lúc này bị cáo lén lút lấy xe mô tô biển số 83M1 - 093… đang đậu tại nhà mình (xe có khóa tự động) rồi chạy đến 01 tiệm game bắn cá nằm trên đường HV thuộc thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng. Tại đây bị cáo vào chơi game và thua hết tiền cá nhân rồi nhờ ông Ngô Quốc S, sinh năm 1977, cư trú: ấp CT, Thị trấn MX, huyện MX, tỉnh Sóc Trăng đem xe mô tô biển số 83M1

- 093… đi cầm cho bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1987, cư trú: Khóm M, phường B, Thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng với số tiền 9.500.000 đồng (Chín triệu năm trăm nghìn đồng). Đến khoảng hơn 18 giờ cùng ngày Ng nhận được điện thoại của ông Nguyễn Văn Th (cha ruột của Ng) cho hay đã bị mất trộm xe, sau đó Ng đến Công an xã LH trình báo sự việc trên. Qua làm việc với Công an bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Về vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Tú đã thu giữ: 01 (một) xe mô tô biển số 83M1-093..., nhãn hiệu: Honda; số loại AIR BLADE; màu sơn: Trắng Đen; số khung: RLHJF633XMZ128...; số máy: JF94E0309... Sau khi làm rõ Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho chủ sở hữu.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 75/KL-HĐĐGTS ngày 09-8-2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng kết luận: Xe mô tô biển số 83M1-093.09 nhãn hiệu: Honda; số loại AIR BLADE; màu sơn: Trắng Đen; số khung: RLHJF633XMZ128...; số máy: JF94E0309... bị chiếm đoạt ngày 27/7/2022 được định giá là: 43.200.000 đồng (Bốn mươi ba triệu hai trăm nghìn đồng)

Tại bản cáo trạng số 32/CT-VKS-MT ngày 14 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng Tr về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa sơ thẩm: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng Tr về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Tú đã xử lý xong nên đề nghị không đặt ra xem xét, giải quyết.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa bị hại bà Nguyễn Thị Kim Ng không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hoàng Gương, ông Nguyễn Văn Thanh, ông Ngô Quốc Sử, bà Nguyễn Thị Ngà. Xét thấy, việc vắng mặt những người này không gây cản trở cho việc xét xử, cơ quan điều tra cũng đã tiến hành lấy lời khai của họ nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có tên nêu trên.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công huyện Mỹ tú, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện Mỹ Tú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi lấy trộm tài sản của bị hại Nguyễn Thị Kim Ng là chiếc xe mô tô biển số 83M1-093... nhãn hiệu: Honda; số loại AIR BLADE; màu sơn: Trắng Đen như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát đã nêu. Xét thấy, lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 75/KL-HĐĐGTS ngày 09-8-2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng kết luận tài sản bị cáo lấy trộm của bị hại Ng có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là: 43.200.000 đồng (Bốn mươi ba triệu, hai trăm nghìn đồng). Xét thấy, bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn bất chấp thực hiện. Mặc dù bị cáo biết tài sản của người khác bị cáo không có quyền sở hữu nhưng bị cáo đã lợi dụng lúc sơ hở trong quá trình quản lý, trông coi tài sản để lén lút lấy trộm tài sản của bị hại với tổng giá trị là 43.200.000 đồng. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có nhân thân xấu, ngày 05-7-2021 bị Công an xã LH, huyện MT, tỉnh Sóc Trăng xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” đến nay chưa đóng phạt xong. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác mà pháp luật bảo vệ, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, nên việc truy tố đưa bị cáo ra xét xử nghiêm trước pháp luật là cần thiết. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong thời gian hợp lý để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời để tuyên truyền, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về vật chứng trong vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Tú đã xử lý xong, không ai khiếu nại gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hoàng Tr phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú về mức hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng như đã nêu trong phần nội dung là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 269; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2/ Tuyên phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Tr 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc từ ngày bị bắt để chấp hành án.

3/ Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

4/ Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Tú đã xử lý xong nên không đặt ra xem xét giải quyết.

5/ Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hoàng Tr phải chịu số tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

6/ Bị cáo, bị hại, được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ