vanban.org

Bản án 02/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cát Hải, TP. Hải Phòng Tuyên án 16/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao bị cáo Vũ Trọng C cho Ủy ban nhân dân thị trấn Cát Bà, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Hồng Phúc và Vũ Trọng Cương phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? Giao bị cáo Vũ Trọng C cho Ủy ban nhân dân thị trấn Cát Bà, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁT HẢI
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2023/HS-ST
Ngày 16-02-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT HẢI, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Hưng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Tú Anh - Phó Bí thư huyện Đoàn Cát Hải

Ông Hoàng Văn Thành - Phó Chủ tịch Liên đoàn lao động huyện Cát Hải.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Văn Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Vũ Huy Tài - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2023, đối với các bị cáo:

1. Vũ Hồng P, sinh ngày 22/9/2005 tại thành phố Hải Phòng. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố X, thị trấn C, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng; chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố X1, thị trấn C, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Tuấn A và bà Lê Thị H; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 14/2022/HS-ST ngày 21/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Cát Hải xử phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp tài sản; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/10/2022; có mặt.

2. Vũ Trọng C, sinh ngày 10/02/2005 tại thành phố Hải Phòng. Nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn C, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn L và bà Phạm Thị N; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/10/2022; có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo P: Ông Vũ Tuấn A, sinh năm 1970; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố X, thị trấn C, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng; chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố X1, thị trấn C, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng là bố đẻ của bị cáo; có mặt.

- Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Trần Minh Nghĩa - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị hại:

+ Chùa Thiên Ư; địa chỉ: Xã Trân Châu, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng; người đại diện theo pháp luật: Đại đức Thích Thục K; vắng mặt. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Vũ Thị H, sinh năm 1947; nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng; có mặt.

+ Ông Hoàng Văn Đ, sinh năm 1939; nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn C, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng; có mặt.

+ Ủy ban nhân dân xã T, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng; vắng mặt. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Vũ Thị T, sinh năm 1967; nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng; có mặt. Bà Nguyễn Thị Thủy, sinh năm 1959; nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Vũ Tuấn A, sinh năm 1970; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố X, thị trấn C, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng; chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố X1, thị trấn C, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng; có mặt.

+ Ông Vũ Văn L, sinh năm 1979; nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn C, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 02/9/2022, Công an huyện Cát Hải nhận được đơn trình báo của bà Vũ Thị H, sinh năm 1947, trú tại Thôn L, xã T, Cát Hải là người được giao trông coi chùa Thiên Ư, xã Trân Châu, huyện Cát Hải trình báo về việc Chùa bị kẻ gian cạy phá hòm công đức, trộm cắp tài sản khoảng hơn 10.000.000 đồng.

Qua điều tra xác minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cát Hải đã triệu tập Vũ Hồng P, sinh ngày 22/9/2005; trú tại Tổ dân phố X1, thị trấn C và Vũ Trọng C, sinh ngày 10/02/2005; trú tại Tổ dân phố H, thị trấn C. Tại Cơ quan điều tra, Vũ Hồng P, Vũ Trọng C khai nhận: Do cần tiền để chơi game và tiêu xài cá nhân nên C và P đã nhiều lần rủ nhau trộm cắp tài sản là tiền công đức tại các Đền, Chùa thuộc xã Trân Châu, huyện Cát Hải và nhà thờ Họ thuộc thị trấn Cát Bà, huyện Cát Hải, cụ thể:

Lần 1: Khoảng 00 giờ ngày 02/9/2022, C và P rủ nhau đến khu vực chùa Thiên Ư thuộc Thôn L, xã T, huyện Cát Hải mục đích để trộm cắp tiền công đức. Sau khi quan sát không có người trông coi, C và P thấy cửa phụ bên phải của Chùa không khóa nên cả hai đi vào bên trong bê hòm công đức ra khu vực phía sau Chùa. P đi ra ngoài canh gác còn C cạy phá hòm công đức để lấy tiền. Do không mở được khóa nên C đi về nhà tại tổ dân phố Hùng Sơn lấy 01 con dao bằng kim loại dài khoảng 47cm mang đến để phá khóa. Sau khi phá được khóa, C lấy số tiền bên trong hòm công đức. Khi về nhà, P đếm được số tiền 10.500.000 đồng và chia cho C 4.200.000 đồng còn P cầm 6.300.000 đồng. C dùng số tiền trên mua 01 điện thoại Iphone 6S; 01 xe môtô không có biển kiểm soát của người không quen biết tại Hải Phòng, mục đích để sử dụng. P dùng số tiền trên để chi tiêu cá nhân hết.

Lần 2: Khoảng 22 giờ ngày 05/9/2022, P và C đi xe mô tô biển kiểm soát 15AA-213.04 qua khu vực đền Mẫu thuộc Thôn B, xã T, Cát Hải, cả hai rủ nhau trộm cắp tiền công đức của đền. P đứng ngoài canh gác còn C đi vào trong đến khu vực ban thờ lấy được số tiền 134.000 đồng. Số tiền trên C và P chia nhau mỗi người 67.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết.

Lần 3: Khoảng 23 giờ ngày 09/9/2022, C và P rủ nhau đến nhà thờ họ Hoàng thuộc Tổ dân phố H, thị trấn C, Cát Hải mục đích để trộm cắp tiền công đức. Khi quan sát không có người trông coi, P, C đi vào bên trong nhà thờ họ, bê hòm công đức ra khu vực sân phía sau để C cạy phá lấy tiền. Khi lấy được tiền, cả hai đi về nhà P đếm được 1.050.000 đồng, P chia cho C 520.000 đồng còn P giữ 530.000 đồng. Số tiền trên P dùng chi tiêu cá nhân, còn lại 180.000 đồng; C chi tiêu cá nhân, còn lại 445.000 đồng, cả hai đã giao nộp lại cho Cơ quan Công an.

Ngoài ra, ngày 27/8/2022, Vũ Trọng C một mình đi đến đền Quan Đội thuộc Thôn B, xã T, huyện Cát Hải, thấy không có người trông coi nên C đi vào lấy trong hòm công đức số tiền 600.000 đồng. Số tiền trên C đã chi tiêu cá nhân hết.

Các ngày 27/8/2022, 05/9/2022, 10/9/2022 Công an huyện Cát Hải nhận được các đơn trình báo của bà Vũ Thị T, sinh năm 1967, trú tại Thôn B, xã T, Cát Hải là người được giao trông coi đền Quan Đội, xã Trân Châu, Cát Hải về việc hòm công đức của đền bị kẻ gian lấy mất số tiền khoảng 1.000.000 đồng. Bà Nguyễn Thị Thủy, sinh năm 1959, trú tại Thôn B, xã T, Cát Hải là người được giao trông coi đền Mẫu, xã Trân Châu, trình báo về việc kẻ gian lấy trộm số tiền công đức khoảng 400.000 đồng trên ban thờ của đền. Ông Hoàng Văn Đ, sinh năm 1939, trú tại Tổ dân phố H, thị trấn C, Cát Hải là người quản lý nhà thờ họ Hoàng, trình báo về việc hòm công đức của nhà thờ Họ bị kẻ gian cạy phá, lấy mất số tiền khoảng hơn 1.000.000 đồng.

Cơ quan điều tra đã tạm giữ của Vũ Hồng P 01 xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, màu đen, biển kiểm soát 15AA-213.04 mà P sử dụng để đi trộm cắp tài sản, 01 đăng ký xe mang tên Nguyễn Ích Đức Trường và số tiền 180.000 đồng.

Tạm giữ của Vũ Trọng C 01 con dao dài khoảng 47cm, lưỡi bằng kim loại dài 27cm, cán bằng gỗ dài 20cm mà C dùng để phá khóa hòm công đức; 01 xe mô tô nhãn hiệu WAYEINDONA, số khung RL9BCBWUMLBG8232, số máy RAN1P39FMB2V08232, màu trắng bạc, không có biển kiểm soát; 01 điện thoại Iphone 6S, số Imei 355430071612139, màu trắng, không lắp sim, đây là số tài sản mà C dùng số tiền trộm cắp được để mua và số tiền 445.000 đồng.

Bản Cáo trạng số 02/CT-VKS ngày 05/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo Vũ Hồng P và Vũ Trọng C về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như vụ án đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 55, Điều 56, Điều 58, Điều 91, Điều 98, Điều 101, Điều 104 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Hồng P từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử tổng hợp hình phạt bị cáo còn phải chấp hành tại bản án số 14/2022/HS-ST ngày 21-9-2022 của Tòa án nhân dân huyện Cát Hải.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65, Điều 91, Điều 98, Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Trọng C từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo do các bị cáo khi phạm tội là người dưới 18 tuổi.

Đề nghị hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Vũ Trọng C.

- Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại; gia đình cũng không yêu cầu các bị cáo trả lại số tiền đã bồi thường thay; bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại gì, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho các bị cáo đồng ý với tội danh và điều luật mà Đại diện Viện kiểm sát vừa luận tội đối với bị cáo nhưng đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ “phạm tội lần đầu” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo C, “phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo P và bị cáo C, đồng thời áp dụng các quy định đối với người chưa đủ 18 tuổi phạm tội để xét xử bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát vừa đề nghị.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, không đồng ý đề nghị của người bào chữa vì bị cáo C trong thời gian ngắn liên tiếp có các hành vi phạm tội và hai bị cáo đã chiếm đoạt được tài sản, sử dụng tài sản đã chiếm đoạt do vậy không được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo đề nghị của người bào chữa.

Sau khi nghe đại diện Viện Kiểm sát luận tội, ý kiến của người bào chữa, các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, các bị cáo biết hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật và rất hối hận. Tại lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội để có điều sửa chữa lỗi lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cát Hải, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng trong vụ án, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và khung hình phạt: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nội dung bản cáo trạng, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Ngày 02/9/2022, Vũ Hồng P (16 tuổi 11 tháng 10 ngày) và Vũ Trọng C (17 tuổi 6 tháng 22 ngày) đã lén lút chiếm đoạt số tiền 10.500.000 đồng là tiền công đức của chùa Thiên Ư thuộc Thôn L, xã T, huyện Cát Hải, Hải Phòng; Ngày 05/9/2022 lén lút chiếm đoạt số tiền 134.000 đồng là tiền công đức của đền Mẫu thuộc Thôn B, xã T, huyện Cát Hải và ngày 09/9/2022 lén lút chiếm đoạt số tiền 1.050.000 đồng là tiền công đức của nhà thờ họ Hoàng thuộc Tổ dân phố H, thị trấn C, huyện Cát Hải. Tổng số tiền chiếm đoạt là: 11.684.000 đồng (Mười một triệu sáu trăm tám mươi tư nghìn đồng). Ngoài ra, ngày 27/8/2022, Vũ Trọng C đã lén lút chiếm đoạt 600.000 đồng là tiền công đức của đền Quan Đội thuộc Thôn B, xã T, huyện Cát Hải. Theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Như vậy hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của các bị cáo Vũ Hồng P và Vũ Trọng C nêu trên đã đồng phạm tội Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng đối với các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm tài sản tại đền, chùa là nơi sinh hoạt tâm linh của cộng đồng dân cư gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự trị an xã hội nên cần đưa ra xét xử để giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại và các bị hại đều có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo; bị cáo C có ông nội được tặng thưởng huy chương chiến sỹ vẻ vang. Do đó, các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối với quan điểm của người bào chữa đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “phạm tội lần đầu”, quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo C; “Phạm tội chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn”, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo P và bị cáo C. Hội đồng nhận thấy trước thời điểm tội phạm bị phát hiện bị cáo C đã 1 lần thực hiện hành vi phạm tội và sau đó cùng bị cáo P nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội khác nên bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo P, C đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội đến cùng, tài sản đã chiếm đoạt sử dụng vào mục đích cá nhân do vậy các bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Kiểm sát viên đề nghị áp dụng điều luật, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo là đúng với quy định của pháp luật.

Về nhân thân: Các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Thời điểm thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đều chưa đủ 18 tuổi. Thời điểm xét xử sơ thẩm bị cáo C đã đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên không cần có người đại diện tham gia tố tụng tại phiên tòa; bị cáo đề nghị để người bào chữa tiếp tục tham gia bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa. Bị cáo P ngày 21/9/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Cát Hải xử phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp tài sản, thời điểm phát hiện hành vi phạm tội lần này bản án chưa có hiệu lực pháp luật nên không coi là tiền án. Bị cáo P và bị cáo C đã cùng nhau thực hiện 03 lần trộm cắp tài sản và bị cáo C một lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản một mình, mặc dù chỉ có một hành vi trộm cắp của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên các bị cáo không phải chịu tình tiết định khung phạm tội nhiều lần nhưng qua đó thể hiện các bị cáo là những thanh niên tụ tập lêu lổng, nhân thân xấu. Tại thời điểm phạm tội, các bị cáo đều chưa đủ 18 tuổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế nên được xem xét áp dụng các quy định pháp luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội để nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội theo quy định tại Chương XII Bộ luật Hình sự.

Xét vai trò của các bị cáo: Hai bị cáo cố ý thực hiện một tội phạm nên là đồng phạm quy định tại Điều 17 của Bộ luật Hình sự nhưng là đồng phạm giản đơn vì các bị cáo không có sự bàn bạc, không có sự cấu kết chặt chẽ, phân công, phân nhiệm cụ thể; không có người tổ chức, cầm đầu, chỉ huy; tuy nhiên bị cáo C là người trực tiếp, tích cực thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo P cảnh giới, tiếp sức, là người chủ động phân chia tài sản chiếm đoạt được và hưởng phần nhiều hơn bị cáo C nên các bị cáo có vai trò ngang nhau và phải chịu hình phạt ngang nhau.

Về quyết định mức hình phạt đối với bị cáo P: Căn cứ vào nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hành vi phạm tội của bị cáo cần xử bị cáo mức án nghiêm bắt cách ly xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung. Hình phạt áp dụng đối với bị cáo cần phù hợp với các quy định của pháp luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Đối với hình phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 14/2022/HS-ST ngày 21-9-2022 của Tòa án nhân dân huyện Cát Hải (thi hành bản án từ ngày 01/11/2022), tính đến phiên tòa xét xử sơ thẩm, bị cáo đã chấp hành được 03 tháng 15 ngày cải tạo không giam giữ, thời gian còn phải chấp hành là 02 tháng 15 ngày (75 ngày) được tổng hợp theo nguyên tắc ba ngày cải tạo không giam giữ bằng một ngày tù có thời hạn vì vậy hình phạt còn lại bị cáo phải chấp hành là 25 ngày tù có thời hạn. Tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đã áp dụng đối với bị cáo.

Về quyết định mức hình phạt đối với bị cáo C: Với nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hành vi phạm tội của bị cáo nên xem xét áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo dưới sự theo dõi, giám sát, giáo dục của gia đình, chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cũng đảm bảo yêu cầu đấu tranh phòng ngừa tội phạm và giáo dục đối với bị cáo; thể hiện được chính sách của pháp luật hình sự đối với người phạm tội dưới 18 tuổi. Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đã áp dụng đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 6 Điều 91 Bộ luật Hình sự, các bị cáo khi phạm tội đều là người dưới 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, màu đen, biển kiểm soát 15AA-213.04 và 01 đăng ký xe mang tên Nguyễn Ích Đức Trường, qua xác minh chủ sở hữu là ông Vũ Tuấn A (bố đẻ bị cáo P), ông Tuấn A không biết việc P sử dụng xe vào mục đích phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho ông Tuấn A. Số tiền 180.000 đồng và 445.000 đồng do P, C tự nguyện giao nộp, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại là ông Hoàng Văn Đ. Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu WAYEINDONA, màu trắng bạc, không có biển kiểm soát, số khung RL9BCBWUMLBG8232, số máy RAN1P39FMB2V08232, quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu nên Cơ quan điều tra tách khỏi vụ án để tiếp tục xác minh, xử lý sau là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 con dao dài 47cm, lưỡi dao bằng km loại dài 27cm, cán dao bằng gỗ dài 20cm thu giữ của bị cáo C là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại Iphone 6S, màu trắng, dung lượng 64Gb, số IMEI: 355430071612139 do bị cáo C dùng tiền trộm cắp được để mua nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình các bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại; gia đình không yêu cầu các bị cáo trả lại số tiền đã bồi thường thay; bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí hình sự: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 98, Điều 101, Điều 55, Điều 56 và Điều 104 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Vũ Hồng P 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp với hình phạt 25 ngày tù còn phải chấp hành tại Bản án số 14/2022/HS-ST ngày 21-9-2022 của Tòa án nhân dân huyện Cát Hải, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 06 (sáu) tháng 25 (hai lăm) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt hoặc tự nguyện đi chấp hành án. Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65, Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Vũ Trọng C 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Vũ Trọng C cho Ủy ban nhân dân thị trấn Cát Bà, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Căn cứ Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Vũ Trọng C.

- Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao dài 47cm, lưỡi dao bằng km loại dài 27cm, cán dao bằng gỗ dài 20cm;

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại Iphone 6S, màu trắng, dung lượng 64Gb, số IMEI: 355430071612139.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng)

Về án phí hình sự: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án: Buộc các bị cáo Vũ Trọng C và Vũ Hồng P, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ