vanban.org

Bản án 02/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Tiền Giang Tuyên án 05/01/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hằng D.

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Hằng D và ông Hong Kwang S. Về con chung: Giao 02 con chung cháu Nguyễn Du B, sinh ngày 09/01/2010; Nguyễn Du M, sinh ngày 01/8/2015 cho bà Nguyễn Thị Hằng D trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị Hằng D tranh chấp "Xin ly hôn" với ông Hong Kwang S"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hằng D.
  • Căn cứ chính? Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 05-01-2023
V/v tranh chấp: “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Xuân Long;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thu Thủy;

Ông Nguyễn Thành Luân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Liêm- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Hà Thúy Thảo - Kiểm sát viên

Ngày 05 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 41/2022/TLST - HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2022 về việc tranh chấp “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/12/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hằng D, sinh năm 1985 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: số B, ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang;

- Bị đơn: Ông Hong Kwang S, sinh năm 1972 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: số D 2 S-D-G-S.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 05/8/2022, bản tự khai ngày 05/8/2022 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hằng D trình bày:

Bà và ông Hong Kwang S xác lập quan hệ hôn nhân năm 2003, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân tỉnh T vào ngày 12/8/2004. Quá trình chung sống, sau khi cưới ông Hong Kwang S về Hàn Quốc và trở lại Việt Nam vợ chồng chung sống tại nhà cha mẹ vợ, đến năm 2021 phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm về nhiều mặt, thường xuyên cải vã đã cố gắng khắc phục nhiều lần nhưng không thể chung sống hòa hợp, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, vợ chồng không hạnh phúc nên bà và ông Hong Kwang S đã sống ly thân từ tháng 05/2022 đến nay không còn quan hệ tình cảm gì. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng giữa bà và ông Hong Kwang S không còn, đời sống chung không thể kéo dài. Mục đích hôn nhân không đạt được và không có khả năng hàn gắn đoàn tụ. Do vậy, bà yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây:

- Về hôn nhân: Bà yêu cầu được ly hôn với ông Hong Kwang S.

- Về con chung: Bà và ông Hong Kwang S có 03 con chung tên: Nguyễn Hằng Minh T, sinh ngày 05/05/2004 (đã thành niên); Nguyễn Du B, sinh ngày 09/01/2010; Nguyễn Du M, sinh ngày 01/8/2015 hiện đang do bà trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà và ông Hong Kwang S tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại Bản tự khai ngày 07/3/2022 và đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 07/3/2022, bị đơn ông Hong Kwang S trình bày:

- Về hôn nhân: Ông yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị Hằng D.

- Về con chung: Ông và bà Nguyễn Thị Hằng D có 03 con chung tên: Nguyễn Hằng Minh T, sinh ngày 05/05/2004 (đã thành niên); Nguyễn Du B, sinh ngày 09/01/2010; Nguyễn Du M, sinh ngày 01/8/2015 hiện đang do bà Nguyễn Thị Hằng D trực tiếp nuôi dưỡng. Ông đồng ý giao 03 con chung cho bà Nguyễn Thị Hằng D trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông và bà Nguyễn Thị Hằng D tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Ông Hong Kwang S xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tại phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

- Về nội dung vụ án: Bà Nguyễn Thị Hằng D yêu cầu được ly hôn với ông Hong Kwang S do mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; ông Hong Kwang S cũng đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Thị Hằng D. Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn của bà Nguyễn Thị Hằng D và ông Hong Kwang S; về con chung: Giao 02 con chung là Nguyễn Du B sinh ngày 09/01/2010 và cháu Nguyễn Du M sinh ngày 01/08/2015 cho bà Nguyễn Thị Hằng D được quyền trực tiếp nuôi dưỡng; không giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung do bà Hằng D không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận các đương sự trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét. Về án phí: bà Hằng D phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ tranh chấp: Bà Nguyễn Thị Hằng D khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Hong Kwang S nên xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp “Xin ly hôn” theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị Hằng D có đơn khởi kiện tranh chấp ly hôn với ông Hong Kwang S. Ông Hong Kwang S có quốc tịch Hàn Quốc và hiện đang cư trú tại Hàn Quốc. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37 và điểm c khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Hằng D và ông Hong Kwang S vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Hằng D và ông Hong Kwang S theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Hằng D, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bà Nguyễn Thị Hằng D và ông Hong Kwang S xác lập quan hệ hôn nhân năm 2007, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân tỉnh T theo Giấy chứng nhận kết hôn số 338 quyển số 02 ngày 17/8/2004. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông Hong Kwang S và bà Nguyễn Thị Hằng D bất đồng quan điểm về nhiều mặt, hai bên không còn quan tâm lẫn nhau, cuộc sống chung không hạnh phúc nên đã ly thân từ tháng 5 năm 2022 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà Nguyễn Thị H Dương xin ly hôn với ông Hong Kwang S, ông Hong Kwang S cũng đồng ý với yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Hằng D.

Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà Nguyễn Thị Hằng D và ông Hong Kwang S đã phát sinh từ năm 2021, việc bất đồng về quan điểm, lối sống, suy nghĩ đã làm tình cảm vợ chồng ông bà ngày càng phai nhạt. Hiện nay ông Hong Kwang S đã về Hàn Quốc sinh sống, bà Hằng D sinh sống ở Việt Nam nên việc hàn gắn tình cảm vợ chồng gặp nhiều khó khăn. Khi bà Nguyễn Thị H Dương xin ly hôn thì ông Hong Kwang S cũng đồng ý cho thấy tình cảm của ông bà đã thật sự tan vỡ, không còn khả năng đoàn tụ. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Hằng D và ông Hong Kwang S là phù hợp theo Điều 55 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Hằng D và ông Hong Kwang S có 03 con chung tên: Nguyễn Hằng Minh T, sinh ngày 05/05/2004 (đã thành niên); Nguyễn Du B, sinh ngày 09/01/2010; Nguyễn Du M, sinh ngày 01/8/2015, hiện 03 con chung đang sinh sống tại Việt Nam với bà Nguyễn Thị Hằng D. Bà Nguyễn Thị Hằng D và ông Hong Kwang S đều có ý kiến khi ly hôn thống nhất giao 03 con chung tên: Nguyễn Hằng Minh T, sinh ngày 05/05/2004 (đã thành niên); Nguyễn Du B, sinh ngày 09/01/2010; Nguyễn Du M, sinh ngày 01/8/2015 cho bà Nguyễn Thị Hằng D nuôi dưỡng. Mặc khác qua tham khảo ý kiến của con chung cháu Nguyễn Du B và cháu Nguyễn Du M cũng có nguyện vọng được sống với mẹ khi cha mẹ ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy để tránh xáo trộn về mặt tâm sinh lý, ổn định cuộc sống của con chung và theo nguyện vọng của cháu Nguyễn Du M và Nguyễn Du B. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét giao 02 con chung cháu Nguyễn Du B, sinh ngày 09/01/2010; Nguyễn Du M, sinh ngày 01/8/2015 cho bà Nguyễn Thị Hằng D được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại các Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị Hằng D xác định bà và ông Hong Kwang S tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Hằng D và ông Hong Kwang S thống nhất trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Ý kiến đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hằng D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 273, khoản 1 và 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 51, Điều 55, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hằng D.

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Hằng D và ông Hong Kwang S.

2. Về con chung: Giao 02 con chung cháu Nguyễn Du B, sinh ngày 09/01/2010; Nguyễn Du M, sinh ngày 01/8/2015 cho bà Nguyễn Thị Hằng D trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: không đặt ra xem xét.

Ông Hong Kwang S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định của pháp luật, không ai được quyền cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Ghi nhận bà Nguyễn Thị Hằng D và ông Hong Kwang S thống nhất trình bày không có; không đặt ra xem xét.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hằng D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà bà đã nộp theo biên lai số 0000332 ngày 06/10/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tiền Giang, xem như đã nộp xong án phí sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Hằng D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm. Ông Hong Kwang S cư trú ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ