- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án HNGĐ sơ thẩm Trần Thị M - Khổng Đăng H"
- Tòa quyết gì? Xử: Cho chị Trần Thị M được ly hôn với anh Khổng Đăng H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2023/HNGĐ - ST Ngày 09 tháng 01 năm 2023 “ V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phùng Văn Thông
Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Oanh – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đạo - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 173/2022/TLST - HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp Ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 135/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị M, sinh năm 1996; Địa chỉ: Thôn P, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Có mặt).
- Bị đơn: Anh Khổng Đăng H, sinh năm 1993. Địa chỉ: Thôn Đ, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 16/8/2022 cùng các lời khai tiếp theo và tại phiên tòa nguyên đơn chị Trần Thị M trình bày: Chị kết hôn cùng anh Khổng Đăng H ngày 05/9/2019, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, sau ngày cưới vợ chồng ra ở riêng luôn. Thời gian đầu tình cảm vợ chồng cũng bình thường. Đến khoảng tháng 10 năm 2020 vợ chồng sảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do chị phát hiện anh H nhắn tin qua lại với người phụ nữ tên là Lê Thị H ở thôn H, xã L. Anh H còn đến đón chị H tại nhà của chị H dẫn đến vợ chồng có xảy ra sô sát anh H đã đánh chị nhiều lần nhưng chị không báo chính quyền xã. Ngày 04/8/2022 trong lúc vợ chồng cãi chửi nhau thì anh H có đánh đuổi chị trước sự chứng kiến của bố chồng là ông Khổng Văn H nên chị đã về nhà bố mẹ đẻ ở, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn xin được ly hôn với anh H.
Tại phiên tòa bị đơn anh Khổng Đăng H vắng mặt nhưng tại các buổi làm việc ở Tòa án anh H trình bày: Về thời gian kết hôn và quá trình chung sống như chị M đã trình bày là đúng. Về nguyên nhân mâu thuẫn là do chị M không tin tưởng anh vì anh thi thoảng có nhắn tin tâm sự chuyện gia đình với chị Lê Thị H nhưng anh và chị H chỉ là bạn bình thường, ngoài ra không có quan hệ gì khác, từ đó vợ chồng sảy ra sô sát đánh cãi chửi nhau, có lần do nóng giận anh có tát chị M. Đến tháng 8 năm 2022 do trong lúc nóng giận nên anh đã đuổi chị M về nhà bố mẹ đẻ ở. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn vì con chung còn nhỏ (nay cháu mới được 14 tháng tuổi) nên cần được sự quan tâm chăm sóc của cả bố và mẹ, anh xin được đoàn tụ cùng chị M. Về biện pháp đoàn tụ anh sẽ thay đổi bản thân, tu trí làm ăn hạn chế nhắn tin qua lại với bạn bè khác giới, giành nhiều thời gian hơn cho gia đình vợ con. Tuy nhiên nếu chị M cương quyết ly hôn thì anh cũng đồng ý ly hôn.
Về con chung: Chị Trần Thị M và anh Khổng Đăng H có một con chung là Khổng Đăng H, sinh ngày 02/8/2021 (hiện nay đang ở cùng chị M). Nếu ly hôn thì anh chị thống nhất để cho chị M tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu H. Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung. Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, đất canh tác: Chị Trần Thị M và anh Khổng Đăng H không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về công sức: Chị Trần Thị M không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký Tòa án và việc chấp hành pháp luật của các đương sự đồng thời phát biểu quan điểm giải quyết vụ án đề nghị áp dụng Điều 51, Điều 56; Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Xử: Chấp nhận cho chị Trần Thị M được ly hôn với anh Khổng Đăng H.
Về con chung: Giao chị Trần Thị M được tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc cháu Khổng Đăng H, sinh ngày 02/8/2021 (hiện nay đang ở cùng chị M). Chị M không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về tài sản chung, công nợ và công sức: Chị Trần Thị M và anh Khổng Đăng H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng dân sự: Chị Trần Thị M có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường giải quyết việc xin ly hôn của chị và anh Khổng Đăng H theo quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự, anh H và chị M đều có hộ khẩu thường trú tại xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường.
Về sự vắng mặt của anh Khổng Đăng H tại phiên tòa nhưng Tòa án đã triệu tập hợp lệ hai lần nhưng anh H không đến tham gia phiên tòa, anh H vắng mặt không có lý do, vì vậy căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến Hnh xét xử vắng mặt đối với anh H là đúng trình tự pháp luật.
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị M và anh Khổng Đăng H có đăng ký kết hôn ngày 05/9/2019 tại UBND xã Y trên cơ sở tự nguyện, trước khi cưới có tìm hiểu là cuộc hôn nhân hợp pháp. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nên đã có 01 con chung, quá trình chung sống anh chị có sảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh chị không tin tưởng nhau về tình cảm, dẫn đến cãi chửi nhau, có lúc nóng nảy anh H đánh chị M nên chị M đã về nhà bố mẹ đẻ ở tháng 8/2022 đến nay anh chị sống ly thân. Nay chị M xác định tình cảm vợ chồng không còn xin được ly hôn anh H.
Xác minh tại UBND xã Y cho biết: Nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là do anh chị không tin tưởng nhau về tình cảm nên dẫn đến vợ chồng cãi chửi nhau, chị M đã về nhà bố mẹ đẻ ở, vợ chồng sống ly thân nhau từ khoảng 10/2020. Nay chị M xin ly hôn anh H, quan điểm địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Về tình cảm vợ chồng giữa chị M và anh H khó có thể cải thiện được vì mâu thuẫn giữa hai anh chị rất căng thẳng.
Quá trình làm việc tại Tòa án anh H xin đoàn tụ, tuy nhiên chị M vẫn cương quyết ly hôn nên tại tại buổi hòa giải ngày 24/11/2022 anh H cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị M. Điều đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng thực sự không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận cho chị M được ly hôn với anh H là phù hợp.
. Về con chung: Chị Trần Thị M và anh Khổng Đăng H có một con chung là Khổng Đăng H, sinh ngày 02/8/2021, hiện nay cháu Huy đang ở cùng chị M. Ly hôn chị M và anh H thỏa thuận để chị M tiếp tục nuôi con chung là phù hợp vì hiện nay cháu H chưa đủ 36 tháng tuổi nên cần có mẹ chăm sóc. Chị M tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức và đất canh tác: Chị Trần Thị M và anh Khổng Đăng H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thị M là nguyên đơn nên phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Cho chị Trần Thị M được ly hôn với anh Khổng Đăng H.
Về con chung: Giao cho chị Trần Thị M tiếp tục nuôi dưỡng và giáo dục con chung là cháu Khổng Đăng H, sinh ngày 02/8/2021, hiện nay cháu H đang ở cùng chị M. Chị M tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức và đất canh tác: Chị Trần Thị M và anh Khổng Đăng H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0005628 ngày 04/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường. Chị M đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND huyện Vĩnh Tường; - CCTHADS huyện Vĩnh Tường; - Các đương sự; - UBND xã Y; - Lưu hồ sơ vụ án + văn phòng. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Hải |