- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Vi Thị Coóng được ly hôn với Anh Mạc Văn Thải.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƢƠNG DƢƠNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2023/HNGĐ-ST Ngày 22- 02- 2023 V/v: Tranh chấp hôn nhân & gia đình |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƢƠNG DƢƠNG - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Ái
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Cụt Xuân Ninh
Ông Trần Đình Hưng
- Thư ký phiên tòa: Bà Vy Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Phùng Tiến Chương - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 104/2022/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2023/QĐXX-ST ngày 02 tháng 02 năm 2023 và giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Vi Thị Coóng, sinh năm 1977. Có đơn xét xử vắng mặt
Trú tại: Bản Khe Kiền, xã Lưu Kiền, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.
2. Bị đơn: Anh Mạc Văn Thải. Sinh năm 1974. Có mặt.
Trú tại: Bản Khe Kiền, xã Lưu Kiền, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn nộp ngày 07 tháng 10 năm 2022 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Vi Thị Coóng trình bày:
Tình cảm: Chị Vi Thị Coóng và anh Mạc Văn Thải tìm hiểu nhau được một thời gian thì kết hôn vào năm 1993. Chị Coóng và anh Thải đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lưu Kiền, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An vào ngày 01 tháng 7 năm 2004 trên cơ sở tự nguyện không ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng sống rất hạnh phúc, mâu thuẫn phát sinh từ đầu năm 2019, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do, vợ chồng sống tính cách không hợp nhau, bất đồng về mọi mặt trong cuộc sống nên vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, xúc phạm nhau thậm tệ, bản thân đã cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng, chịu đựng chồng để cho các con trưởng thành, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được, vợ chồng sống ly thân từ năm 2019. Nay chị Coóng không còn tình cảm với anh Thải, nên có nguyện vọng ly hôn để ổn định cuộc sống và công việc.
- Về con chung: Chị Coóng và anh Thải có 03 con chung là cháu Mạc Văn Quang, sinh ngày 08/5/1993, cháu Mạc Văn Vinh, sinh ngày 17/01/1995 và cháu Mạc Văn Đức, sinh ngày 24/9/2001 hiện nay các cháu đã trưởng thành không bị hạn chế hay mất năng lực hành vi dân sự nên chị Coóng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Coóng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa bị đơn anh Mạc Văn Thải trình bày:
- Tình cảm: Anh Thải và chị Vi Thị Coóng tìm hiểu nhau được một thời gian thì kết hôn vào năm 1993. Anh Thải và chị Coóng đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lưu Kiền, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An vào ngày 01 tháng 7 năm 2004 trên cơ sở tự nguyện không ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng sống rất hạnh phúc, mâu thuẫn phát sinh từ đầu năm 2019, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do, vợ chồng sống tính cách không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, cuộc sống vợ chồng cũng có những lúc cãi vã nhau, xúc phạm nhau, nhưng bản thân anh Thải rất yêu thương gia đình, anh Thải đang cố gắng làm ăn để lo cho hai cháu Vinh, cháu Đức đang đi học tốt nghiệp ra trường. Bản thân anh Thải có nguyện vọng các cháu Mạc Văn Quang, Mạc Văn Vinh, Mạc Văn Đức lấy vợ ổn định cuộc sống thì mới tính chuyện đồng ý ly hôn với chị Coóng, vợ chồng không ở với nhau từ năm 2019. Anh Thải đang còn tình cảm với chị Coóng nên không đồng ý ly hôn.
- Con chung: Anh Thải và chị Coóng có 03 con chung là cháu Mạc Văn Quang, sinh ngày 08/5/1993 đang đi làm ăn xa, cháu Mạc Văn Vinh, sinh ngày 17/01/1995 đang học tại trường Cao đẳng cảnh sát nhân dân 1 và cháu Mạc Văn Đức, sinh ngày 24/9/2001 đang học tại trường Lục Quân, hiện nay các cháu đã trưởng thành không bị hạn chế hay mất năng lực hành vi dân sự nên anh Thải không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Anh Thải không yêu cầu Tòa án giải quyết
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng:
Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với nguyên đơn, bị đơn: Đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị Coóng cụ thể như sau: Quan hệ hôn nhân cho chị Vi Thị Coóng được ly hôn với anh Mạc Văn Thải; Về con chung: Các cháu Mạc Văn Quang, Mạc Văn Vinh, Mạc Văn Đức đã trưởng thành nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; Về tài sản chung, nợ chung: Chị Coóng và anh Thải không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Tố tụng: Đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Anh Mạc Văn Thải có hộ khẩu thường trú tại bản Khe Kiền, xã Lưu Kiền, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Căn cứ Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa nguyên đơn chị Vi Thị Coóng và bị đơn anh Mạc Văn Thải thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án án xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Quan hệ hôn nhân: Chị Coóng và anh Thải kết hôn với nhau vào năm 2004 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc và được Ủy ban nhân dân xã Lưu Kiền, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 01/7/2004 vì vậy đây là hôn nhân hợp pháp.
Nội dung:
1. Quan hệ hôn nhân: Chị Coóng và anh Thải trong quá trình sống chung bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không hợp nhau, quan điểm sống khác nhau nên thường xuyên cãi vã, xúc phạm lẫn nhau, dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn và đã sống ly thân với nhau. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân của chị Coóng và anh Thải đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị Coóng là có căn cứ phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
2. Con chung: Chị Coóng và anh Thải có 03 con chung là cháu Mạc Văn Quang, sinh ngày 08/5/1993, cháu Mạc Văn Vinh, sinh ngày 17/01/1995 và cháu Mạc Văn Đức, sinh ngày 24/9/2001, hiện các cháu đã trưởng thành không bị hạn chế hay mất năng lực hành vi dân sự vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Tài sản, nợ chung: Chị Coóng và anh Thải đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Án phí và quyền kháng cáo: Chị Vi Thị Coóng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật;
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
Tuyên xử:
1. Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Vi Thị Coóng được ly hôn với Anh Mạc Văn Thải.
2. Con chung: Cháu Mạc Văn Quang, sinh ngày 08/5/1993, cháu Mạc Văn Vinh, sinh ngày 17/01/1995 và cháu Mạc Văn Đức, sinh ngày 24/9/2001 đã trưởng thành.
3. Tài sản chung, nợ chung: Chị Coóng và anh Thải không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Án phí: Chị Vi Thị Coóng phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0010693 ngày 07/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.
5. Quyền kháng cáo: Bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 22/02/2023. Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - VKSND H.Tương Dương; - UBND xã Lưu Kiền; - Các đương sự; - Chi cục THADS H.Tương Dương; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣơng Thị Ái |