vanban.org

Bản án 02/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn V.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn V được ly hôn chị Tô Thị Mỹ T. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn V, giao 01 con chung tên Nguyễn Minh P, sinh ngày 16/8/2012 cho anh Nguyễn V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị Tô Thị Mỹ T không phải cấp dưỡng nuôi con do anh Nguyễ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn V.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUẬN NAM
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 10-01- 2023
V/v: Tranh chấp Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ T gồm có:

T phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Khánh Hưng.

Các Hội T nhân dân: Ông Trần Văn Lợi và ông Thiên Anh Khoa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Quảng Đại Phát – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam tham gia phiên toà: Bà Hồ Thị Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận, xét xử sơ T công khai vụ án dân sự thụ lý số: 90/2022/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 6 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2022/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn V, sinh năm: 1987 (có mặt).

Trú tại: thôn Lạc T 2, xã Phước D, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận.

Bị đơn: Chị Tô Thị Mỹ T, sinh năm: 1990 (vắng mặt).

Trú tại: thôn Lạc T 2, xã Phước D, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 08/02/2022 và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Nguyễn V trình bày: Anh với chị Tô Thị Mỹ T tự nguyên tìm hiểu và đi đến chung sống với nhau từ năm 2012 và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Phước D, huyện Thuận Nam. Do bản chính giấy chứng nhận kết hôn đã bị thất lạc, nên anh chỉ nộp cho Toà án bản trích lục kết hôn. Sau khi kết hôn anh với chị T chung sống tại thôn Lạc T 2, xã Phước D. Thời gian đầu chung sống hạnh P, đến khoảng năm 2014 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp nhau nên vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, đến năm 2015 chị T tự ý bỏ nhà đi nên vợ chồng sống cách ly từ đó cho đến nay. Nay anh xét thấy vợ chồng không còn tình cảm, đã sống cách ly nhau từ nhiều năm nay, không còn ai quan tâm đến ai nên anh đề nghị Toa án giải quyết cho anh được ly hôn.

Tại phiên tòa anh vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện cụ thể như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh yêu cầu được ly hôn chị Tô Thị Mỹ T.

- Về con chung: Anh với chị T có 01 con chung tên Nguyễn Minh P, sinh ngày 16/8/2012, hiện nay cháu đang sống với anh, anh yêu cầu được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con

- Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía bị đơn: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, chị Tô Thị Mỹ T đã được Tòa án thực hiện các thủ tục niêm yết công khai hợp lệ nhưng chị T không có mặt cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên không có lời trình bày.

Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của T phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, T phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn V, anh V được ly hôn chị T.

- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc anh V phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ T theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được T tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên Tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Anh Nguyễn V khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn với chị Tô Thị Mỹ T, đây là vụ án về Hôn nhân và Gia đình quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị Tô Thị Mỹ T hiện đang cư trú tại thôn Lạc T 2, xã Phước D, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc T quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam.

[2]. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn chị Tô Thị Mỹ T đã được Tòa án thực hiện các thủ tục niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt

. Về nội dung vụ án:

. Căn cứ Trích lục kết hôn số 267/TLKH-BS, ngày 22/3/2021 và Giấy khai sinh số 277/2012/TLKS-BS ngày 06/12/2012 của Ủy ban nhân dân xã Phước D, huyện Thuận Nam, Hội đồng xét xử xác định hôn nhân của anh Nguyễn V và chị Tô Thị Mỹ T là hôn nhân hợp pháp, thời điểm kết hôn năm 2012, có đủ các điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

. Về tình trạng hôn nhân: Quá trình vợ chồng chug sống hạnh P đến năm 2015 thì xảy ra mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng đã sống cách ly nhau từ năm 2015 cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành xác minh, chính quyền địa phương xác nhận hiện nay anh V và chị T đã không còn sống chung với nhau, chị T đã tự ý bỏ đi khỏi địa phương từ nhiều năm nay. Điều này chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục niêm yết công khai nhưng chị T vẫn vắng mặt tại phiên tòa, điều đó chứng tỏ chị T không có thiện chí hàn gắn gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh V.

. Về con chung: Quá trình chung sống anh Nguyễn V và chị Tô Thị Mỹ T có 01 con chung tên Nguyễn Minh P, sinh ngày 16/8/2012. Anh V yêu cầu tiếp tục nuôi con và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con, xét thấy đây là sự tự nguyện của anh V và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu P nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về tài sản chung và nợ chung: Anh Nguyễn V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam về việc giải quyết vụ án là phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.

. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc anh Nguyễn V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ T đối với yêu cầu ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều: 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn V.

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn V được ly hôn chị Tô Thị Mỹ T.

2. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn V, giao 01 con chung tên Nguyễn Minh P, sinh ngày 16/8/2012 cho anh Nguyễn V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị Tô Thị Mỹ T không phải cấp dưỡng nuôi con do anh Nguyễn V không yêu cầu.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về án phí: Anh Nguyễn V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ T. Khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà anh V đã nộp theo Biên lai thu số 0001362 ngày 06/6/2022 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Nam.

4. Quyền kháng cáo: nguyên đơn có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ./.

Cỡ chữ