vanban.org

Bản án 02/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông A. Ông A được ly hôn với bà B.

Về con chung: có 02 con chung tên C sinh ngày 12/6/2006 và D sinh ngày 07/01/2011. Giao con chung tên C cho ông A trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con chung tên D cho bà B trực tiếp nuôi dưỡng, các bên đương sự không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Người không trực tiếp nuôi con được quyền tới lui thăm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nhan - Qui"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông A. Ông A được ly hôn với bà B.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 12-01-2023
V/v tranh chấp: “ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH LONG AN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Bảo Trâm.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hồng Phong.

2. Ông Trịnh Thế Phương Nam

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Hằng – Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Loan – Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 306/2022/TLST – HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105a/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Ông A, sinh năm 1982 (xin vắng)

Địa chỉ: ấp E, xã F, huyện T, tỉnh Long An.

2.Bị đơn: Bà B, sinh năm 1985 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp E, xã F, huyện T, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử, nguyên đơn ông A trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: ông và bà B được mai mối rồi đi đến hôn nhân và được Ủy ban nhân dân xã F, huyện T, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 13/02/2006. Sau khi kết hôn thì sống chung gia đình chồng, thời gian đầu chung sống hạnh phúc, về sau phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bà B thường xuyên đi ra khỏi nhà và thường xuyên thiếu nợ mà không rõ lý do. Ông và bà B đã ly thân từ 06 tháng nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, ông A yêu cầu ly hôn với bà B.

Về con chung: có 02 con chung tên C sinh ngày 12/6/2006 và D sinh ngày 07/01/2011, hiện cháu C đang ở với ông, cháu D đang ở chung bà B. Khi ly hôn, ông yêu cầu tiếp tục nuôi cháu C, bà B nuôi cháu D, các bên không phải cấp dưỡng cho nhau.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa giải quyết.

Bị đơn bà B vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng nên không có bản tự khai. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án có tiến hành thủ tục niêm yết thông báo về việc thụ lý vụ án cho bà B biết Tòa án có thụ lý vụ án ly hôn theo đơn khởi kiện của ông A nhưng bà B không có ý kiến bằng văn bản gửi đến Tòa án về việc ông A xin ly hôn.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Long An phát biểu quan điểm: Từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật theo quy định pháp luật. Riêng bà B chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của ông theo thủ tục tố tụng, tuy nhiên việc xét xử vắng mặt bà B không ảnh hưởng đến kết quả xét xử. Về việc giải quyết vụ án: Về hôn nhân, bà B không đến Tòa án để giải quyết vụ án cũng không có ý kiến. Xét mâu thuẫn trầm trọng nên ông A yêu cầu ly hôn là có cơ sở. Về con chung: có 02 con chung tên C sinh ngày 12/6/2006 và D sinh ngày 07/01/2011, hiện cháu C đang ở với ông, cháu D đang ở chung bà B, bà B không có trình bày yêu cầu gì về việc ly hôn và con chung, nên giao cho ông A tiếp tục nuôi cháu C, bà B tiếp tục nuôi cháu D, ông A không cấp dưỡng do bà B không có yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung, ông A không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Ông A và bà B kết hôn với nhau và được Ủy ban nhân dân xã F, huyện T, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 13/02/2006. Nay ông A khởi kiện xin ly hôn làm phát sinh quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Do bà B hiện cư ngụ tại huyện T, tỉnh Long An nên khi ông A có yêu cầu xin ly hôn thì Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Long An giải quyết theo trình tự sơ thẩm quy định tại khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải theo quy định tại Điều 205 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng không tiến hành hoà giải được do vắng mặt đương sự. Vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.

Tại phiên toà, bà B là bị đơn vắng mặt. Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai tại nơi cư trú cho bà B Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy báo phiên tòa nhưng bà B vẫn không đến tham gia phiên tòa. Do đó, việc Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Long An đưa ra xét xử vắng mặt bà B là phù hợp với Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. 8

Tại phiên tòa hôm nay, ông A có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Xét yêu cầu của ông A, Hội đồng xét xử thấy:

Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa ông A và bà B có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ khi có tranh chấp.

Xét thấy, ông A và bà B kết hôn đã lâu, mâu thuẫn kéo dài nhiều năm, nguyên nhân mâu thuẫn theo ông A trình bày là do bà B thường xuyên đi khỏi nhà và thiếu nợ mà ông không rõ lý do. Tuy bà B vắng mặt tại phiên toà và suốt quá trình tố tụng, không xác định nguyên nhân mâu thuẫn nhưng theo kết quả xác minh của Công an xã F, huyện T, tỉnh Long An thì bà B có đăng ký hộ khẩu tại địa chỉ: ấp E, xã F, huyện T, tỉnh Long An, hiện đang sinh sống tại địa phương. Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai tại nơi cư trú cho bà B các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định pháp luật như Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy báo phiên tòa nhưng bà B không đến Tòa án tham gia tố tụng, không tham gia phiên hoà giải và phiên toà để giải quyết vụ án, không có ý kiến hay yêu cầu gì thể hiện việc bà B không thiết tha hàn gắn tình cảm với ông A, không quan tâm yêu cầu xin ly hôn của ông A. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ tình cảm giữa ông A và bà B không còn, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, quan hệ hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài được nữa, tình cảm không thể hàn gắn, xét chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông A đối với bà B là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: có 02 con chung tên C sinh ngày 12/6/2006 và D sinh ngày 07/01/2011. Xét thấy, bà B không tham gia phiên tòa, không thể hiện ý kiến về việc ly hôn cũng như nuôi con chung, hiện cháu C đang ở với ông A, cháu D đang ở chung bà B, do đó cần giao con chung tên C cho ông A tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu D cho bà B tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng để đảm bảo sự phát triển ổn định của con chung cũng như nguyện vọng của con chung, các bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau do không có yêu cầu. Bà B có quyền tới lui thăm nom chăm sóc con chung sau khi ly hôn là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung và nợ chung: ông A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: ông A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo Nghị quyết về án phí, lệ phí Toà án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 205, 207, 227; Các điều 147, 266, 267, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào điều 51, 56, 81, 82 Luật Hôn nhân – gia đình năm 2014.

Căn cứ Nghị quyết về án phí, lệ phí Toà án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông A. Ông A được ly hôn với bà B.

Về con chung: có 02 con chung tên C sinh ngày 12/6/2006 và D sinh ngày 07/01/2011. Giao con chung tên C cho ông A trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con chung tên D cho bà B trực tiếp nuôi dưỡng, các bên đương sự không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

Người không trực tiếp nuôi con được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Người trực tiếp nuôi con được quyền yêu cầu hạn chế quyền thăm nom nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom làm ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc giáo dục con chung. Vì quyền lợi của con chung, các bên hoặc một bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con chung cũng như mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: ông A không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: ông A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Khấu trừ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí ông A đã nộp theo biên lai thu số 0002705 ngày 25/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Long An sang thi hành án phí. Ông A không phải nộp thêm.

Án xét xử sơ thẩm công khai, vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Nguyên đơn, Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Cỡ chữ