vanban.org

Bản án 02/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Ngọc A và ông Nguyễn Tấn T là vợ chồng.

Về tài sản chung: Các đương sự tự thỏa thuận. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Ngọc A phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 28 tháng 11 năm 2022 bà A có nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0003191 tại Chi cục Thi hành án dân s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Ngọc A - Nguyễn Tấn T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Ngọc A và ông Nguyễn Tấn T là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 03-01-2023
V/v Không công nhận vợ chồng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Bảo Trâm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hồ Lệ Hoa

2. Ông Trần Văn Thắng

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hồng Như là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

Ngày 03 tháng 01 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 456/2022/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 304/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1980, có yêu cầu vắng mặt

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn T, sinh năm 1970, có yêu cầu vắng mặt

Cùng địa chỉ: Ấp 9, xã T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 05/10/2022, biên bản hòa giải ngày 21/12/2022, bà Nguyễn Ngọc A trình bày:

Về hôn nhân: Bà A và ông T sống chung với nhau vào năm 1997 nhưng không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, hôn nhân không thể kéo dài nên bà A yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông T.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Bích T, sinh năm 1998 và Nguyễn Quốc G, sinh năm 2000. Con chung hiện đã trưởng thành nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận.

Về nợ chung: Không có.

Do bận công việc gia đình nên bà xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.

* Tại biên bản hòa giải ngày 21/12/2022 ông Nguyễn Tấn T trình bày:

Ông T thống nhất với lời trình bày của bà A về các vấn đề hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Do quá trình chung sống vợ chồng mâu thuẫn nên ông cũng thống nhất ly hôn theo yêu cầu của bà A.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Bích T, sinh năm 1998 và Nguyễn Quốc G, sinh năm 2000. Con chung hiện đã trưởng thành nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận.

Về nợ chung: Không có.

Do bị bệnh, đi lại khó khăn nên ông xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

Bà Nguyễn Ngọc A khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Tấn T. Do ông bà chung sống với nhau nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định nên đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc không công nhận vợ chồng; Ông T có địa chỉ tại ấp 9, xã T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà A thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, bà A, ông T có yêu cầu xin vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Bà A và ông T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 1997 nhưng không có đăng ký kết hôn. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa ông bà chưa tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của luật hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống ông bà có đủ điều kiện đăng ký kết hôn nhưng không thực hiện đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 luật Hôn nhân và gia đình nên không được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Mặc khác, bà A và ông T đều thống nhất chấm dứt mối quan hệ hôn nhân. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 14, Điều 53 luật Hôn nhân và gia đình không công nhận bà Nguyễn Ngọc A và ông Nguyễn Tấn T là vợ chồng.

Về con chung: Bà A và ông T có 02 con chung tên Nguyễn Bích T, sinh năm 1998 và Nguyễn Quốc G, sinh năm 2000, đều đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Ông T và bà A tự thỏa thuận. Nợ chung: Không có, không ai yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Bà Nguyễn Ngọc A phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng Điều 14, Điều 53 của luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Ngọc A và ông Nguyễn Tấn T là vợ chồng.

2. Về tài sản chung: Các đương sự tự thỏa thuận.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Ngọc A phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 28 tháng 11 năm 2022 bà A có nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0003191 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau được chuyển thu án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Bà A, ông T vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.

Cỡ chữ