- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "T/C ly hôn giữa chị Ph và anh H"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Hồng Ph.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THẤT THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2023/HNGĐ-ST Ngày: 05/01/2023 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THẤT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Ninh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mai.
Ông Nguyễn Văn Chiến.
- Thư ký phiên tòa: Ồng Nguyễn Đình Sáng; Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Lưu Mạnh Hùng, Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạch Thất xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 126/2022/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2022 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2022/QĐST-HNGĐ ngày 20/12/2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Hồng Ph, sinh năm 1996 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn Yên M, xã Bình Y, huyện Thạch Thất, TP. Hà Nội.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1993 (vắng mặt)
Nơi cư trú cuối cùng: Thôn Yên M, xã Bình Y, huyện Thạch Thất, TP. Hà Nội.
- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1971 – Mẻ đẻ anh H (có mặt)
Địa chỉ: Thôn Yên M, xã Bình Y, huyện Thạch Thất, TP. Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 30/9/2022 cùng biên bản lấy lời khai ngày 20/10/2022 và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là chị Nguyễn Hồng Ph trình bày: Tôi đăng ký kết hôn với anh Nguyễn Văn H vào ngày 24/11/2014 tại UBND xã Bình Y trên cơ sở tự nguyện và có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán tại địa phương.
Chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh H chơi bời, cơ bạc tôi đã khuyên bảo nhiều lần nhưng không được.
Đến tháng 3/2019 anh H đi lao động xuất khẩu ở Hàn Quốc nhưng đi theo diện lao động chui, thời gian này anh H thường xuyên gắt gỏng với vợ con và không gửi tiền về cho tôi nuôi con. Tôi đã nhiều lần yêu cầu anh H về Việt Nam để làm thủ tục ly hôn nhưng anh H không đồng ý. Tôi cũng đã yêu cầu anh H cung cấp địa chỉ cụ thể của anh H bên Hàn Quốc để tôi làm thủ tục ly hôn đơn phương anh H tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội nhưng anh H cố tình giấu địa chỉ. Hiện tại tôi chỉ biết nơi cư trú cuối cùng của anh H ở Việt Nam là thôn Yên M, xã Bình Y, huyện Thạch Thất, TP. Hà Nội.
Đến tháng 6/2022 thì tôi bỏ về nhà bố mẹ đẻ tôi ở thôn Yên M, xã Bình Y, huyện Thạch Thất để ở. Tôi xác định không còn tình cảm với anh H nữa nên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của tôi cho tôi được ly hôn anh H.
Về con chung: Chúng tôi có một con chung là cháu Nguyễn Hà V, sinh ngày 23/8/2015. Khi ly hôn tôi đề nghị Tòa án giao cháu V cho tôi trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tôi không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, công nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn là anh Nguyễn Văn H, Tòa án không ghi được ý kiến của anh H với lý do:
Ngày 24/10/2022, mẹ đẻ của anh Nguyễn Văn H là bà Nguyễn Thị Nh cho biết: Bà là mẹ đẻ của anh Nguyễn Văn H, anh H kết hôn với chị Nguyễn Hồng Ph vào cuối năm 2014 trên cơ sở tự nguyện. Gia đình bà tổ chức cưới cho anh chị theo phong tập quán tại địa phương.
Trong quá trình chung sống bà thấy vợ chồng anh chị H Ph thỉnh thoảng có phát sinh những mâu thuẫn nhỏ, không đến mức phải ly hôn.
Đến tháng 3/2019, anh H đi lao động xuất khẩu ở Hàn Quốc, nhưng thuộc diện đi chui, không hợp pháp nên gia đình bà không biết địa chỉ cụ thể của anh H đang ở đâu. Hàng ngày anh H vẫn liên lạc về nhà bà thường xuyên. Đến tháng 5/2022 thì chị Ph bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở. Đến ngày 23/10/2022, gia đình bà nhận được Thông báo thụ lý vụ án số 126/2022/TB-TLVA ngày 13/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, bà đã thông báo ngay cho anh H và anh H có nhờ bà ra làm việc với Tòa án để hỏi rõ về lý do chị Ph xin ly hôn anh H. Hiện tại, anh chị H, Ph có 01 con chung là cháu Nguyễn Hà V, sinh ngày 23/8/2015. Việc sinh hoạt hàng ngày, nuôi dưỡng, đưa đón cháu đi học do gia đình bà lo cho cháu, đến tối thì cháu V về ngủ cùng mẹ ở nhà ông bà ngoại. Về việc chị Ph xin ly hôn anh H, gia đình bà xin có ý kiến như sau:
Bà thấy vợ chồng anh chị Ph H không có mâu thuẫn gì lớn chỉ là những mẫu thuẫn lặt vặt, đề nghị Tòa án tạo điều kiện, kiên trì khuyên giải để chị Phương rút đơn khởi kiện xin ly hôn để vợ chồng được đoàn tụ.
Trong trường hợp Tòa án chấp nhận việc xin ly hôn của chị Ph thì gia đình bà đề nghị Tòa án giao cháu V cho gia đình bà nuôi dưỡng.
Tòa án yêu cầu bà thông báo cho anh H biết về việc Tòa án đã thụ lý giải quyết đơn khởi kiện xin ly hôn anh H của chị Nguyễn Hồng Ph và thông báo cho anh H biết về việc anh H phải gửi lời khai bằng văn bản của mình đối với yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn về cho Tòa án, bà đồng ký cam kết sẽ thông báo lại 02 nội dung này cho anh H ngay khi bà về đến nhà.
Tại biên bản xác minh ngày 25/10/2022 với Công an xã Bình Y về sự vắng mặt của tại nơi cư trú của anh Nguyễn Văn H, Công an xã Bình Y cho biết: Anh H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Yên M, xã Bình Y, huyện Thạch Thất, Tp. Hà Nội. Thời gian gần đây, anh H vắng mặt tại nơi cư trú, anh H không làm thủ tục khai báo tạm vắng. Hiện tại, anh H ở đâu Công an xã Bình Y không nắm được.
Tại Công văn số 23835/QLXNC-P5 ngày 08/11/2022 của Cục Quản lý xuất nhập cảnh về việc cung cấp thông tin trường hợp Nguyễn Văn H, Cục quản lý xuất nhập cảnh cho biết: Nguyễn Văn H, sinh ngày 02/12/1993 tại Hà Nội, CMND số xxxxxxxxxxxx, khai hộ khẩu thường trú tại thôn Yên M, xã Bình Y, huyện Thạch Thất, TP. Hà Nội đã sử dụng hộ chiếu số xxxxxxxx để xuất cảnh ngày 11/3/2019 qua cửa khẩu Nội Bài, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.
Tại biên bản xác minh ngày 30/11/2022 với Trưởng thôn Yên M, xã Bình Y về tình trạng mâu thuẫn vợ chồng anh H chị Ph, Trưởng thôn Yên M, xã Bình Y là ông Vương Văn Mỹ cho biết: Anh H, chị Ph là người cùng thôn, anh chị chung sống có một người con. Về tình trạng mâu thuẫn vợ chồng anh chị H, Ph, ông Mỹ không nắm được rõ nhưng qua nắm bắt tình hình các hộ dân xung quanh thì anh H, chị Ph có mâu thuẫn, chị Ph đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống còn anh H đã đi xuất khẩu lao động được vài năm nay. Hiện tại anh H ở đâu, làm gì ông Mỹ không nắm được.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên quan điểm như trên.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự: Việc Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, đúng pháp luật. Việc xác định quan hệ pháp luật và tư cách người tham gia tố tụng là đúng pháp luật. Thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo, việc chuyển hồ sơ, cấp tống đạt, niêm yết văn bản tố tụng đúng pháp luật.
Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất đề nghị HĐXX áp dụng các điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Các Điều 147, 227, 235, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/20218 của Tòa án nhân dân tối cao về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ. Đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nguyên đơn.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ nhận định như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
1.1. Về thẩm quyền giải quyết: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn yêu cầu giải quyết quan hệ: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Bị đơn có nơi cư trú cuối cùng trên địa bàn huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền và đúng quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
1.2. Về Sự vắng mặt của bị đơn tại phiên tòa:
Bị đơn anh Nguyễn Văn H đã xuất cảnh 11/3/2019 và hiện tại chưa có thông tin nhập cảnh. Tòa án đã 02 lần yêu cầu mẹ đẻ của anh H là bà Nguyễn Thị Nh thông báo cho anh H biết về việc Tòa án đã thụ lý giải quyết đơn khởi kiện xin ly hôn anh H của chị Nguyễn Hồng Ph và thông báo cho anh H biết về việc anh H phải gửi lời khai bằng văn bản của mình đối với yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn về cho Tòa án. Bà Nh đồng ký cam kết và đã thông báo lại cho anh H 02 lần đối với 02 nội dung nêu trên cho anh H nhưng anh H không thực hiện các yêu cầu của Tòa án. Việc này được coi là anh H cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung theo hướng dẫn tại Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/20218 của Tòa án nhân dân tối cao về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ.
Tòa án đã niêm yết hợp lệ Quyết định xét xử số 49/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/12/2022, anh H vắng mặt tại phiên tòa ngày 20/12/2022, Tòa án đã ra Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2022/QĐST-HNGĐ ngày 20/12/2022. Quyết định này đã được niêm yết hợp lệ. Tại phiên tòa hôm nay, anh H tiếp tục vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
2.1. Về tính hợp pháp của hôn nhân: Chị Nguyễn Hồng Ph và anh Nguyễn Văn H kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bình Y, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội ngày 24/11/2014, do vậy quan hệ hôn nhân giữa anh H, chị Ph được xác định là hôn nhân hợp pháp.
2.2. Về mâu thuẫn vợ chồng: Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân, theo chị Ph trình bày là do anh H chơi bời, cơ bạc chị đã khuyên bảo nhiều lần nhưng không được. Đến tháng 3/2019 anh H đi lao động xuất khẩu ở Hàn Quốc, thời gian này anh H thường xuyên gắt gỏng với vợ con và không gửi tiền về cho chị nuôi con. Chị đã nhiều lần yêu cầu anh H về Việt Nam để làm thủ tục ly hôn nhưng anh H không đồng ý. Anh chị đã không chung sống từ tháng 3/2019 đến nay. Điều này chứng tỏ mẫu thuẫn của vợ chồng anh chị đã trầm trọng. Đời sống chung của anh chị không tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Ph để hai bên sớm ổn định cuộc sống.
2.3. Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Hà V, sinh ngày 23/8/2015, hiện tại, ban ngày cháu ở với ông bà nội nhưng đến đêm thì cháu sang ở với chị. Nguyện vọng của chị Ph xin được nuôi dưỡng cháu V. Chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung. Xét nguyện vọng của cháu V và chị Ph, HĐXX thấy rằng cần giao cháu V cho chị Ph trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và đảm bảo được quyền lợi của cháu V. Vì vậy, HĐXX chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.
2.4. Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị Ph không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh H cho đến khi có quyết định khác thay thế.
Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của người trực tiếp nuôi con.
2.5. Về tài sản, công nợ chung: Chị Ph không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét. Do anh H vắng mặt, nếu có tranh chấp về phần tài sản thì sẽ giải quyết bằng một vụ kiện khác.
2.6. Về án phí: Chị Nguyễn Hồng Ph phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Các điều 147, 227, 235, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/20218 của Tòa án nhân dân tối cao về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ:
1. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Hồng Ph. Chị Nguyễn Hồng Ph được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hà V, sinh ngày 23/8/2015 cho chị Nguyễn Hồng Ph trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của người trực tiếp nuôi con.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Văn H cho đến khi đến khi có quyết định khác thay thế.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Hồng Ph phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền này được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0025534 ngày 14 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội.
5. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND huyện Thạch Thất; - Chi cục THADS huyện Thạch Thất; - UBND xã Bình Y, huyện Thạch Thất; - Các đương sự; - Lưu. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Tạ Thị Ninh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |