- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đinh Thị Y-Đinh Công Ng"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 51, 56, 58, điều 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, 39, 147, 227, 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326 về án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN LẠC TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2023/HNGĐ-ST Ngày: 06 - 02 - 2023 V/v Tranh chấp HNGĐ- Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN LẠC- TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Đình Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:1. Bà Bùi Thị Liên, Cán bộ hưu trí.
2. Bà Bùi Thị Phong, Cán bộ hưu trí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Tăng Thị Hồng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thành Công, Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 105/2022/TLST- HNGĐ ngày 06/10/2022 về Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2023/QĐXXST-HN&GĐ, ngày 05/01/2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Y, sinh năm 1995.
ĐKNKTT và cư trú: Xóm B, xã Ph, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình.
2. Bị đơn : Anh Đinh Công Ng, sinh năm 1994.
ĐKNKTT: Xóm B, xã Ph, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, được nộp tiền tạm ứng án phí ngày 06/10/2022, bản tự khai và quá trình tố tụng tiếp theo, nguyên đơn chị Đinh Thị Y trình bày:
Chị và anh Đinh Công Ng, sau quá trình tự do tìm hiểu, đã tự nguyện kết hôn và về chung sống với nhau, hai gia đình có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương, có thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã Ph, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình ngày 26/8/2015. Sau kết hôn vợ chồng chung sống với gia đình nhà chồng tại xóm B, xã Ph, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình. Vì cuộc sống quá khó khăn và cũng vì mưu sinh vợ chồng phải đến khu công nghiệp Bắc Ninh làm thuê, kiếm sống và nuôi con. Thời gian đầu bình thường nhưng không được bao lâu, anh Ng không chịu khó làm ăn, đua đòi chơi bời đàn đúm nên lương không đủ để chơi bời, không đỡ đần cho vợ nuôi con nhỏ. Chị đã khuyên giải nhiều lần nhưng anh Ng không thay đổi nên đã xa chân vào tệ nạn xã hội, nghiện ma túy mà càng nghiện nặng hơn. Tháng 01/2019, anh Ng bị cơ quan điều tra Bắc Ninh bắt và bị Tòa án huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 02 năm 06 tháng tù. Tháng 7/2021 anh Ng ra tù nhung vẫn chứng nào tật ấy, không từ bỏ ma túy, không quan tâm giúp đỡ được gia đình vợ con. Chị đã nhiều lần khuyên bảo anh Ng không thay đổi. Chị cũng nhờ bố mẹ, gia đình hai bên nội ngoại khuyên giải nhưng anh Ng cũng vẫn không thay đổi, không thèm quan tâm đến cuộc sống của mẹ con chị như thế nào; không đóng góp chu cấp và sống thiếu trách nhiệm với gia đình. Vợ chồng ly thân từ khi anh Ng bị bắt cho đến nay. Thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, chị Y gửi đơn yêu cầu xin được ly hôn anh Ng để giải phóng cho nhau. Về con chung: Có 03 con là Đinh Công Th, sinh ngày 30/7/2012; Đinh Minh Nh và Đinh Huy H cùng sinh ngày 10/3/2015. Khi ly hôn chị Y xin được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cả 03 con và chưa yêu cầu anh Ng đóng góp, cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Ng được quyền thăm nom, chăm sóc con chung chị không ngăn cản. Về tài sản chung, Công nợ chung: Không có. Về án phí: Nguyên đơn xin tự nguyện chịu toàn bộ .
Vì phía bị đơn anh Đinh Công Ng đã được triệu tập ra tòa làm việc, Tòa đã báo về phiên họp tiếp cận, giao nộp và công khai chứng cứ và hòa giải. Tuy nhiên, anh Ng có biết việc chị Y gửi đơn ra Tòa đế xin ly hôn; Biết Tòa thông báo và triệu tập đến làm việc nhưng không hợp tác, không đến Tòa giải quyết. Để giải quyết vụ án, chị Y đã có đơn đề nghị không cần lấy lời khai hay tổ chức phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cũng như tiến hành hòa giải nữa.
Chị Đinh Thị Y vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn và anh Đinh Công Ng cố tình trốn tránh nên Tòa đã tiến hành tống đạt giấy báo, Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo đúng quy định của pháp luật. Đến ngày xét xử lần thứ nhất, anh Đinh Công Ng vẫn không có mặt và không có lý do. Phiên tòa lần thứ nhất phải hoãn theo quy định của Pháp luật.
Đến phiên tòa lần thứ hai. Tòa án nhân dân huyện Tân Lạc cũng đã tiến hành tống đạt giấy báo cũng như quyết định hoãn phiên tòa đồng thời ấn định ngày xử tiếp theo và tống đạt cho anh Đinh Công Ng theo pháp luật: Tuy nhiên, đến ngày xét xử, anh Đinh Công Ng vẫn vắng mặt không có lý do.
Như vậy: Anh Đinh Công Ng đã tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của bản thân.
Nguyên đơn, chị Đinh Thị Y vẫn giữ nguyên quan điểm.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đưa ra quan điểm: Tòa án đã tiến hành tống đạt theo đúng các thủ tục theo quy định. Bị đơn lần thứ hai vẫn không có mặt không có lý do nhưng theo quy định tại điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vắng mặt là có cơ sở.
Về quan hệ hôn nhân: Lời khai của chị Y là phù hợp với tài liệu đã thu thập trong hồ sơ vụ án. Việc kết hôn của chị Y và anh Ng là tự nguyện và hợp pháp; mâu thuẫn vợ chồng xảy ra từ lâu và đã ở mức độ trầm trọng nên đề nghị hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 điều 56 luật Hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu xin ly hôn và xử cho chị Y được ly hôn anh Ng. Về con chung cần áp dụng quy định tại các điều 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình để giải quyết việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo pháp luật: Cả 03 cháu Th, Nh và H đã lớn có nguyện vọng xin ở với mẹ; các cháu hiện đang ở với mẹ và được mẹ chăm lo đầy đủ và vì anh Ng cố tình trốn tránh không đến Tòa thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình nên: Giao cả 03 cháu Th, Nh và H cho mẹ trực tiếp chăm sóc giáo dục là phù hợp. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Y chưa yêu cầu anh Ng đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và công nợ chung: Không có nên không đề cập. Về trách nhiệm nộp án phí: Cần áp dụng theo đúng quy định của pháp luật hiện hành về án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận sự tự nguyện chịu án phí của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: - Quan hệ pháp luật tòa án giải quyết là tranh chấp về ly hôn. Nguyên đơn là là chị Đinh Thị Y và bị đơn anh Đinh Công Ng cùng trú tại xóm B, xã Ph, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình nên chị Y khởi kiện vụ án, Tòa xác định chị là nguyên đơn. Anh Ng là người bị khởi kiện là bị đơn là đúng và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình, theo quy định tại Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Y và anh Đinh Công Ng chung sống với nhau từ năm 2012 nhưng kết hôn với nhau năm 2015, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Ph, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình. Hôn nhân do hai bên tự nguyện, là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, hai vợ chồng thường xuyên xảy ra xung đột, mâu thuẫn chủ yếu do anh Ng thiếu trách nhiệm với vợ con. Vợ chồng xung đột khiến cuộc sống gia đình bức bách, nặng nề. Vì kinh tế, vợ chồng phải gửi con cho gia đình đi làm thuê, sinh sống, làm việc những mong anh Ng sửa đổi quay về đoàn tụ gia đình nhưng anh Ng vẫn không quan tâm đoái hoài đến gia đình, vợ con mà còn sa chân vào nghiện ngập bị cơ quan pháp luật xử lý; Vợ chồng ly thân từ năm 2019 đến nay, xác định: Tình cảm vợ chồng không còn, để đảm bảo cho tương lai chị có yêu cầu xin được ly hôn anh Đinh Công Ng.
Xét hôn nhân giữa chị Đinh Thị Y và anh Đinh Công Ng từ sau khi kết hôn được một thời gian ngắn vợ chồng đã thường xuyên xảy ra những mâu thuẫn, bất hòa không thể hòa hợp, anh Ng đã nghiện ngập ma túy và không có giải pháp gì để chị Yên tin tưởng mà yên tâm chung sống để có một gia đình hạnh phúc, cả hai đã sống ly thân từ năm 2019 mỗi người một nơi, không còn khả năng hàn gắn. Căn cứ tình trạng thực tế thì hôn nhân giữa vợ và chồng không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn để xử cho chị Đinh Thị Y được ly hôn anh Đinh Công Ng là cần thiết, phù hợp với các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam.
Về con chung: Chị Đinh Thị Y và anh Đinh Công Ng có 03 con là Đinh Công Th, sinh ngày 30/7/2012; Đinh Minh Nh và Đinh Huy H cùng sinh ngày 10/3/2015. Quá trình giải quyết, chị Y có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cả ba con và yêu cầu anh Ng đóng góp, cấp dưỡng nuôi con chung với mức 2.000.000 đ/tháng cho đến khi cháu Nh và H đủ 18 tuổi; Tuy nhiên sau thấy anh Ng không hợp tác và hiện anh cũng chưa có việc làm và thu nhập nên chị chưa yêu cầu anh Ng đóng góp, cấp dưỡng nuôi con chung. Các con chị, hiện vẫn sinh sống cùng chị và chị vẫn cho con ăn học đầy đủ và có cuộc sống khá tốt. Chị có việc làm và thu nhập ổn định khoảng 8.000.000đ/tháng đủ để đảm bảo cho con ăn học. Chị để quyền thăm nom, chăm sóc con chung cho anh Ng mà không ngăn cản.
Xét: Anh Đinh Công Ng, là bố đã không đến Tòa, đã từ bỏ quyền nuôi con và việc giao con cần phải giao mẹ. Hiện 03 con là Đinh Công Th, sinh ngày 30/7/2012; Đinh Minh Nh và Đinh Huy H cùng sinh ngày 10/3/2015 đều có nguyện vọng xin ở mẹ, các cháu cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ và hiện tại cả ba cháu đang được mẹ nuôi dưỡng và chăm sóc tốt. Bởi vậy, nên giao 03 con là Đinh Công Th, Đinh Minh Nh và Đinh Huy H cho chị Đinh Thị Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp và chấp nhận sự tự nguyện của chị Y chưa yêu cầu anh Đinh Công Ng đóng góp cấp dưỡng muôi con chung. Anh Ng được quyền thăm nom, chăm sóc con chung theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự xác định không có tài sản chung nên không yêu cầu đồng thời xác định không có nợ chung nên không đề cập xử lý.
Về án phí: Chị Đinh Thị Y phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 51, 56, 58, điều 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, 39, 147, 227, 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326 về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Đinh Thị Y được ly hôn với anh Đinh Công Ng.
- Về con chung : Giao 03 con là Đinh Công Th, sinh ngày 30/7/2012; Đinh Minh Nh và Đinh Huy H cùng sinh ngày 10/3/2015 cho chị Đinh Thị Y trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Đinh Thị Y chưa yêu cầu anh Đinh Công Ng phải đóng góp, cấp dưỡng nuôi con chung. Quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung được đảm bảo theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Chị Đinh Thị Y phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án huyện Tân Lạc theo biên lai số: 0003024 ngày 06/10/2022.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo kết quả xét xử hoặc kết quả bản án được niêm yết
Án xử sơ thẩm công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hòa Bình; - VKSNDtỉnh Hòa Bình; - VKSND huyện Tân Lạc; - THA huyện Tân Lạc; - Các đương sự; - UBND xã Ph-Tân Lạc; - Lưu hồ sơ. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Bùi Đình Dũng |