vanban.org

Bản án 02/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Trương Thị Vân A và anh Đặng Văn Th.

Về con chung: Giao cháu Trương Anh Kh, sinh ngày 20/12/2021 cho chị Trương Thị Vân A tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho tới khi cháu Kh đủ 18 tuổi. Anh Đặng Văn Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Trương Thị Vân A. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Trương Thị Vân A và anh Đặng Văn Th.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LÝ NHÂN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2023/HNGĐ-ST
Ngày 12 - 01 - 2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Quốc Huy.

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hải Hà và bà Đỗ Thị Vân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân tham gia phiên tòa: Ông Phạm Sỹ Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lý Nhân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 151/2022/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên toà số: 20/2022/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trương Thị Vân A, sinh năm 2002; địa chỉ: Thôn Ng, xã B, huyện L, tỉnh H; chị Vân A có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Đặng Văn Th, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn 6 Đ, xã Ch, huyện L, tỉnh H; vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 10 tháng 9 năm 2022; bản tự khai, lời khai của nguyên đơn chị Trương Thị Vân A, nội dung vụ án như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị Vân A kết hôn với anh Đặng Văn Th là tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 29/12/2020 tại Uỷ ban nhân dân xã Chân Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng nhà với bố mẹ chồng tại xã Chân Lý, vợ chồng sống hoà thuận, hạnh phúc được một thời gian ngắn thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn.

Theo chị Vân A trình bày: Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Th thường xuyên đi chơi bời, rượu chè về khuya, không quan tâm đến gia đình, mặc dù chị và mẹ anh Th nhiều lần khuyên bảo nhưng anh Th không nghe. Mặt khác, trong cuộc sống sinh hoạt gia đình hàng ngày, anh Th không vừa lòng việc gì là lại xúc phạm chị và gia đình chị nên vợ chồng nhiều lần cãi nhau, chị nhiều lần bỏ về nhà bố mẹ đẻ nhưng ngay sau đó mẹ chồng lại gọi điện động viên chị về đoàn tụ cùng anh Th. Đến khi chị có thai được khoảng hơn 01 tháng thì vợ chồng xảy ra cãi nhau căng thẳng, anh Th đuổi chị đi nên chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở xã Bắc Lý sinh sống và sinh con; vợ chồng ly thân từ khoảng đầu tháng 6 năm 2021 đến nay, chấm dứt mọi quan hệ tình cảm, không ai quan tâm đến ai.

Đến nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị xin ly hôn với anh Đặng Văn Th.

Về con chung: Chị Trương Thị Vân A đều xác nhận vợ chồng có 01 con chung là cháu Trương Anh Kh, sinh ngày 20/12/2021, hiện nay do chị đang trực tiếp nuôi dưỡng. Trường hợp vợ chồng tôi ly hôn, chị Vân A đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng con chung cho tới khi cháu đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh Th phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị.

Về tài sản, nợ chung và các vấn đề khác: Chị Vân A không yêu cầu Toà án phải giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho anh Đặng Văn Th; tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng anh Th đều vắng mặt không có lý do; chị Vân A có đơn đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải vụ án.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân có ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, vắng mặt tại phiên toà sơ thẩm.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị giải quyết ly hôn giữa chị Trương Thị Vân A với anh Đặng Văn Th. Về con chung: Giao cháu Trương Anh Kh, sinh ngày 20/12/2021 cho chị Vân A tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi cháu Kh đủ 18 tuổi. Anh Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Vân A. Về tài sản, công nợ và các vấn đề khác: Các đương sự không yêu cầu nên không giải quyết. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu toàn bộ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem tại phiên tòa; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ do chị Trương Thị Vân A cung cấp, có cơ sở xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự. Nguyên đơn có đơn xin xử vắng mặt; Bị đơn là anh Đặng Văn Th không tham gia tố tụng, vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do chính đáng. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Trương Thị Vân A và anh Đặng Văn Th là hợp pháp.

Về nguyên nhân mâu thuẫn: Chị Vân A cho rằng vợ chồng chung sống hoà thuận, hạnh phúc được khoảng 01 tháng thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do anh Th thường xuyên đi chơi bời, rượu chè về khuya, không quan tâm đến gia đình, trong cuộc sống sinh hoạt gia đình hàng ngày, anh Th hay xúc phạm chị và gia đình chị nên vợ chồng nhiều lần cãi nhau, chị nhiều lần bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, sau đó lại về đoàn tụ cùng anh Th. Đầu tháng 6 năm 2021 anh Th đuổi nên chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở xã Bắc Lý sinh sống và sinh con; vợ chồng ly thân cho đến nay, chấm dứt mọi quan hệ tình cảm, không ai quan tâm đến ai. Toà án đã tiến hành xác minh, thu tập tài liệu, chứng cứ tại địa phương xã Chân Lý, lấy lời khai của mẹ anh Th là bà Trần Thị Ch, đều xác định nguyên nhân vợ chồng xảy ra mâu thuẫn như ý kiến của chị Vân A trình bày là đúng. Quá trình giải quyết vụ án, anh Th không đến tham gia tố tụng, không tham gia hoà giải.

Từ những phân tích nêu trên, xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng chị Vân A và anh Th đã kéo dài nhiều năm nay, cuộc sống chung không có hạnh phúc, hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị Vân A là có căn cứ, phù hợp với thực tế và pháp luật, quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Trương Anh Kh, sinh ngày 20/12/2021, hiện nay do chị Vân A đang trực tiếp nuôi dưỡng. Quá trình giải quyết vụ án chị Vân A đề nghị được nuôi con chung.

Xét nguyện vọng nuôi dưỡng con chung của chị Vân A là chính đáng, phù hợp với thực tế và điều kiện ăn ở, sinh hoạt của cháu. Mặt khác, cháu Kh sinh ngày 20/12/2021, đến nay chưa đủ 36 tuổi; chị Vân A đang làm công nhân, thu nhập bình quân 6.500.000 đồng/tháng, đảm bảo đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung. Quá trình giải quyết vụ án, anh Th không có ý kiến gì về việc nuôi dưỡng con chung, không đến Toà án làm việc. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Kh cho chị Vân A tiếp tục nuôi dưỡng cho tới khi cháu đủ 18 tuổi là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Chị Vân A không yêu cầu anh Th phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị là tự nguyện nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản, công nợ và các vấn đề khác: Các đương sự đều không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu toàn bộ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Trương Thị Vân A và anh Đặng Văn Th.

2. Về con chung: Giao cháu Trương Anh Kh, sinh ngày 20/12/2021 cho chị Trương Thị Vân A tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho tới khi cháu Kh đủ 18 tuổi. Anh Đặng Văn Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Trương Thị Vân A.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về án phí: Chị Trương Thi Vân A phải chịu toàn bộ tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Vân A đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0001803 ngày 28/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ