- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn Nguyễn Thị In T, bị đơn Nguyễn Minh H"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị In T ly hôn ông Nguyễn Minh H.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2023/HNGĐ-ST Ngày: 12-01-2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Bình.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Hồng Sơn
2. Bà Nguyễn Thị Di.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tín – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Long – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 339/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 82/2022/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị In T, sinh năm 1990 (có mặt)
Địa chỉ: 343 Bùi Công M, Tổ D, ấp A, xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Minh H, sinh năm 1984 (vắng mặt)
Địa chỉ: 343 Bùi Công M, Tổ D, ấp A, xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 24/10/2022 và trong quá trình tố tụng tại Tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị In T trình bày:
Về hôn nhân: Bà T và ông H sống chung, có tổ chức lễ cuới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận kết hôn số 60, quyển số 01/2011 ngày 18/11/2011, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống tại 343 Bùi Công Minh, Tổ D, ấp A, xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, rạn nứt về tình cảm. Nguyên nhân từ những vấn đề kinh tế, tài chính lo cho cuộc sống gia đình không có sự chia sẻ đồng cảm với nhau. Cả hai không thể giải quyết được mâu thuẫn dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Đã nhiều lần nhờ gia đình hai bên can thiệp nhưng không giải quyết được mâu thuẫn.
Nay nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm yêu thương nhau như trước, không thể tiếp tục sống chung nên bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà T được ly hôn với ông H.
Về nuôi con chung: Bà T xác nhận bà và ông H có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 11/10/2013 và Nguyễn Ngọc Hoài T1, sinh ngày 27/5/2020. Bà T yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Nguyễn Minh H:
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông H không đến Tòa án tham gia giải quyết. Tòa án cũng không nhận được văn bản ý kiến hay bản tự khai của ông H.
Tại phiên tòa:
Bà T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không bổ sung gì thêm. Ông H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Các đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn bà T đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn ông H vắng mặt trong quá trình tố tụng là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị I Tuyền yêu cầu ly hôn, giải quyết con chung với ông Nguyễn Minh H nên xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; bị đơn ông H có địa chỉ cư trú tại huyện L nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, ông H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông H theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Bà T và ông H sống chung, có tổ chức lễ cuới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận kết hôn số 60, quyển số 01/2011 ngày 18/11/2011, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống tại 343 Bùi Công Minh, Tổ D, ấp A, xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, rạn nứt về tình cảm. Nguyên nhân từ những vấn đề kinh tế, tài chính lo cho cuộc sống gia đình không có sự chia sẻ đồng cảm với nhau. Cả hai không thể giải quyết được mâu thuẫn dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Đã nhiều lần nhờ gia đình hai bên can thiệp nhưng không giải quyết được mâu thuẫn. Tại Tòa bà T xác định không còn tình cảm với ông H nên yêu cầu được ly hôn.
Kết quả xác minh cho thấy: Bà T và ông H kết hôn năm 2011. Quá trình chung sống có phát sinh mâu thuẫn.
Quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa ông H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Điều đó cho thấy bản thân ông H không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, bỏ mặc đời sống hôn nhân.
Từ những tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp; thực tế xác minh tại địa phương cho thấy mâu thuẫn giữa bà T và ông H là có thật, theo chiều hướng kéo dài và trầm trọng, ông bà đã thực sự không còn tình cảm với nhau, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ vào vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông H.
Về nuôi con chung: Bà T và ông H có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 11/10/2013 và Nguyễn Ngọc Hoài T1, sinh ngày 27/5/2020. Bà T yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy: Cháu T1 tuổi còn nhỏ, cần sự chăm sóc trực tiếp từ người mẹ. Cháu N đã trên 7 tuổi và có nguyện vọng được ở với mẹ. Để tránh xáo trộn trong sinh hoạt, tâm lý, học tập của cháu. Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của bà T giao cháu Nguyễn Ngọc N và Nguyễn Ngọc Hoài T1 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Bà T không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về chia tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bà T là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị In T ly hôn ông Nguyễn Minh H.
2. Về nuôi con chung: Giao con Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 11/10/2013 và Nguyễn Ngọc Hoài T1, sinh ngày 27/5/2020 cho bà Nguyễn Thị I Tuyền trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Bà T không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ đối với con chung. Người không trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không được ai cản trở.
Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu của cha hoặc mẹ hoặc của cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con.
3. Về chia tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Bà T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm bà T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009170, ngày 24 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Bà T đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - VKSND huyện Long Điền; - THADS huyện Long Điền; - UBND xã An Ngãi; - Đương sự; - Lưu. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Phạm Thị Bình |