vanban.org

Bản án 02/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Th được ly hôn ông Phạm Vận. Về con chung: Giao con chung Phạm Lê Trúc Uyên, sinh ngày 05/7/2006 cho bà Lê Thị Th trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Ông Vận không phải cấp dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KON RẪY,
TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2023/HNGĐ - ST
Ngày: 15 -8 - 2023
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KON RẪY, TỈNH KON TUM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Nuôi

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đinh Thị Thuận và bà Y H Liêu

- Thư ký phiên tòa: Ông A Thống – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hà – Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 08 năm 2023, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 11/2023/TLST-HNGĐ ngày 18/04/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 03 tháng 07 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị Th, sinh năm 1971. Địa chỉ: Thôn 11, xã Đắk

Ruồng, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum. Có mặt.

Bị đơn: Ông Phạm Vận, sinh năm 1963. Địa chỉ: Thôn 11, xã Đắk Ruồng, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Đơn khởi kiện đề ngày 28/03 /2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị Th trình bày:

Ngày 10 tháng 06 năm 2010, bà Lê Thị Th và ông Phạm Vận có đăng ký kết hôn và chung sống với nhau. Thời gian ban đầu cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc, tuy nhiên sau đó vợ chồng bà Th và ông Vận liên tục xãy ra nhiều mâu thuẫn với nhau, không chung cùng quan điểm, đôi lúc các bên có những hành động không tôn trọng nhau …. Mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên bảo nhưng cuộc sống hôn nhân giữa bà Th và ông Vận không hạnh phúc được, các bên vẫn tiếp tục mâu thuẫn với nhau. Đến năm 2020 thì bà Th với ông Vận sống ly thân với nhau đến nay. Nay bà Th nhận thấy không còn tình cảm với ông Vận nữa, đời sống vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà Th đề nghị Tòa án nhân dân huyện Kon Rẫy giải quyết cho bà Lê Thị Th và ông Phạm Vân được ly hôn với nhau; Về con chung: Trong quá trình hôn nhân bà Th với ông Vận có 02 người con chung Phạm Lê Trúc Anh, sinh ngày 22/12/2001 và Phạm Lê Trúc Uyên, sinh ngày 05/7/2006. Khi ly hôn bà Th yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Phạm Lê Trúc Uyên, sinh ngày 05/7/2006 đến khi 18 đủ 18 tuổi và tự lập được. Đối với con chung Phạm Lê Trúc Anh, sinh ngày 22/12/2001 đã trưởng thành và tự lập được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về cấp dưỡng: Bà Th không yêu cầu ông Vận cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Về phần bị đơn ông Phạm Vận đã được Tòa án tống đạt hợp lệ bằng hình thức niêm yết công khai, nhưng ông Vận không có ý kiến gì và liên tục vắng mặt không có lý do trong các buổi làm việc của Tòa án ấn định, cũng như tại các ngày mở phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kon Rẫy có ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật và tố tụng:

Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tống tụng dân sự.

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án: Từ khi Tòa án nhân dân huyện Kon Rẫy thụ lý, giải quyết vụ án cho đến nay, nguyên đơn bà Lê Thị Th đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình quy định tại điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Bị đơn ông Phạm Vận trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn đều vắng mặt không có lý do và không thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình quy định tại điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn không có yêu cầu phản tố.

Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn Phạm Vận tiếp tục vắng mặt không có lý do và không có đơn đề nghị xét xử văng mặt. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiếp tục xét xử vụ án là đúng theo quy định của pháp luật.

- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là quan hệ về “Ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum (bị đơn ông Phạm Vận có địa chỉ thôn 11, xã Đắk Ruồng, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum) theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án và quan điểm giải quyết vụ án: Bà Lê Thị Th và ông Phạm Vận tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2010 tại UBND phường Thống Nhất, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum, nên quan hệ hôn nhân giữa bà Th và ông Vận là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, vợ chồng bà Th với ông Vận xảy ra nhiều mâu thuẫn trầm trọng, bà Th và ông Vận đã sống ly thân với nhau từ năm 2020 đến nay, vì vậy không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc bà Th làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà Th và ông Vận được ly hôn với nhau là có căn cứ, cơ sở để chấp nhận. Đối với con chung trong quá trình hôn nhân bà Th với ông Vận có 02 người con chung Phạm Lê Trúc Anh, sinh ngày 22/12/2001 và Phạm Lê Trúc Uyên, sinh ngày 05/7/2006 bà Lê Thị Th yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Phạm Lê Trúc Uyên và không yêu cầu ông Vận cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Về con chung Phạm Lê Trúc Anh đã thành niên, tự lập được, không bị mất, hạn chế năng lực hành vi dân nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Th xác định không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Do đó, đề nghị HĐXX:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 và khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Th, với các nội dung sau:

+ Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Th được ly hôn ông Phạm Vận.

+ Về con chung: Giao con chung Phạm Lê Trúc Uyên cho bà Lê Thị Th trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Ông Vận không phải cấp dưỡng.

Ông Phạm Vận có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở và vì quyền lợi của con, khi cần thiết, các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.

+ Về tài sản chung: Đề nghị HĐXX không xem xét.

- Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bà Lê Thị Th là nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Lê Thi Th giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình về việc xin ly hôn ông Phạm Vận. Các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Theo đơn khởi kiện của bà Lê Thị Th về việc xin ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con với ông Phạm Vận, thì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là quan hệ “Ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn ông Phạm Vận có địa chỉ tại thôn 11, xã Đắk Ruồng, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng: Sau khi tiến hành đầy đủ các thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn Phạm Vận theo quy định của pháp luật, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử, ông Vận đã được triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành, Hội đồng xét xử giải quyết vụ án vắng mặt bị đơn ông Phạm Vận.

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân bà Lê Thị Th và ông Phạm Vận tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2010 tại UBND phường Thống Nhất, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum, nên quan hệ hôn nhân giữa bà Thu và ông Vận là hợp pháp.

Xét nguyên nhân mâu thuẫn: Sau khi kết hôn bà Th và ông Vận chung sống được thời gian đầu rất hạnh phúc, tuy nhiên được một thời gian thì bà Th với ông Vận sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không cùng quan điểm sống, không hợp nhau về lối sống sinh hoạt, ông Vận không quan tâm đến cuộc sống vợ chồng dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng nhạt dần, cụ thể là bà Th với ông Vận đã sống ly thân với nhau từ năm 2020 cho đến nay và bà Th nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, không thể sống chung được nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà Th được ly hôn với ông Vận

Đối với Phạm Vận đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng ông Vận không đến Tòa để hòa giải vợ chồng đoàn tụ. Điều đó thể hiện ông Vận không mong muốn níu kéo tình cảm vợ chồng làm cho hôn nhân ngày càng trầm trọng hơn, đời sống chung không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Th là phù hợp quy định tại Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Trong quá trình hôn nhân bà Th với ông Vận có 02 người con chung Phạm Lê Trúc Anh, sinh ngày 22/12/2001 và Phạm Lê Trúc Uyên, sinh ngày 05/7/2006. Ông Phạm Vận vắng mặt tại nơi cư trú, đã từ bỏ quyền nuôi con nên bà Thu yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Phạm Lê Trúc Uyên và không yêu cầu ông Vận cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp quy định của pháp luật. Đối với con chung Phạm Lê Trúc Anh đã thành niên, tự lập được, không bị mất, hạn chế năng lực hành vi dân nên nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Th xác định không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

Về án phí: Bà Lê Thị Th phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 và khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 51, khoản 1 Điều 56 Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Th được ly hôn ông Phạm Vận.

2. Về con chung: Giao con chung Phạm Lê Trúc Uyên, sinh ngày 05/7/2006 cho bà Lê Thị Th trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Ông Vận không phải cấp dưỡng.

Ông Phạm Vận có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở và vì quyền lợi của con, khi cần thiết, các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.

2. Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 24; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Bà Lê Thị Th phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0003865 ngày 18/04/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum. Bà Th đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (15/8/2023). Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật được thi hành án theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./

Cỡ chữ