- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị H1 xin ly hôn anh T1"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H1.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ K TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2023/HNGĐ-ST Ngày: 12-01-2023 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ K, TỈNH HẢI DƢƠNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Đức Huấn;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn Biên;
2. Bà Đinh Thị Tin.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thăng Long - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã K, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã K, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 12/01/2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã K, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 256/2022/TLST-HNGĐ ngày 14/10/2022 về việc tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/12/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2023/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị H1, sinh năm 1994.
Địa chỉ: Thôn L1, xã K1, huyện K2, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt tại phiên tòa.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1995.
Địa chỉ: KDC Trại Mới, phường HA, thị xã K, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ, nguyên đơn trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn T1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 13/4/2017 tại UBND xã HA, huyện K - nay là UBND phường HA, thị xã K. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà bố mẹ đẻ Chị H1 ở thôn L1, xã K1, huyện K2, tỉnh Hải Dương. Vợ chồng chung sống hoà thuận, hạnh phúc đến khoảng năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Xét nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T1 không chịu tu chí làm ăn, thường xuyên cờ bạc, và có biểu hiện quan hệ nam nữ không lành mạnh. Do mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng, trầm trọng nên Chị H1 và anh T1 sống ly thân từ tháng 5/2022 đến nay. Chị H1 sống tại nhà bố mẹ đẻ còn anh T1 về nhà bố mẹ đẻ của anh T1 tại khu dân cư Trại Mới, phường HA, thị xã K. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng và kéo dài, đề nghị Toà án giải quyết cho chị ly hôn anh T1.
- Quan hệ về con chung: Vợ chồng chị có 01con là Nguyễn Gia Bảo, sinh ngày 05/9/2017. Hiện con đang do chị trực tiếp nuôi dưỡng. Nay ly hôn, Chị H1 có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng con và tự nguyện không yêu cầu anh T1 phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Anh Nguyễn Văn T1 vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
Theo lời khai, bà Trần Thị H2 - là mẹ đẻ chị Lê Thị H1 trình bày: Bà có quan hệ là mẹ đẻ chị Lê Thị H1, anh Nguyễn Văn T1 là con rể bà. Chị H1, anh T1 kết hôn trên cơ sở được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại gia đình bà đến khoảng năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T1 hay cờ bạc, trai gái. Mâu thuẫn căng thẳng, anh T1 bỏ đi sống lang thang với người phụ nữ khác. Nay Chị H1 có đơn yêu cầu ly hôn, tôi xác định mâu thuẫn giữa anh chị đã trầm trọng, đề nghị Tòa án giải quyết cho Chị H1 được ly hôn anh T1; vợ chồng anh chị có 01con là Nguyễn Gia Bảo, sinh ngày 05/9/2017. Hiện Chị H1 và cháu Nguyễn Gia Bảo đang sinh sống cùng gia đình tôi. Nay anh chị ly hôn tôi đề nghị Tòa án giao con cho Chị H1 được nuôi dưỡng. Gia đình bà sẽ tạo mọi điều kiện tốt nhất về chỗ ở và có trách nhiệm giúp đỡ Chị H1 trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Bảo.
Theo lời khai, bà Phạm Thị C1- là mẹ đẻ anh Nguyễn Văn T1 trình bày: Bà là mẹ đẻ anh Nguyễn Văn T1, chị Lê Thị H1 là con dâu bà. Chị H1, anh T1 kết hôn trên cơ sở được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại gia đình bố mẹ đẻ Chị H1. Quá trình chung sống tại đây tôi được biết anh chị có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T1 chơi cờ bạc và có quan hệ nam nữ không lành mạnh. Khoảng tháng 5/2022 thì anh T1 chuyển về chung sống cùng với tôi. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần gửi các văn bản tố tụng và giấy triệu tập cho anh T1 thông qua bà. Bà đã giao lại cho anh T1 và anh T1 cảm thấy hối hận nên đã nhiều lần tìm gặp Chị H1 để xin lỗi, giảng hòa. Nay Chị H1 có đơn yêu cầu ly hôn, bà đề nghị Tòa án tạo điều kiện hòa giải để hai anh chị về đoàn tụ; về con chung: Vợ chồng anh chị có 01con là Nguyễn Gia Bảo, sinh ngày 05/9/2017, hiện đang do Chị H1 trực tiếp nuôi dưỡng. Trường hợp anh chị ly hôn, vì cháu Bảo còn nhỏ nên bà đề nghị Tòa án giao cháu cho Chị H1 được nuôi dưỡng.
Tại biên bản xác minh tại chính quyền địa phương phường HA, xác định: Chị Lê Thị H1 và anh Nguyễn Văn T1 kết hôn vào ngày 13/4/2017, đăng ký kết hôn tại UBND phường HA, thị xã K. Sau khi kết hôn thì Chị H1, anh T1 thường xuyên sinh sống bên gia đình Chị H1 ở huyện Kim Thành nên địa phương không nắm được nguyên nhân cụ thể dẫn đến mâu thuẫn của anh chị. Tuy nhiên, qua nắm bắt tình hình tại địa phương được biết Chị H1, anh T1 trong cuộc sống phát sinh nhiều mâu thuẫn dẫn đến việc Chị H1 làm đơn xin ly hôn. Nay Chị H1 xin ly hôn anh T1 địa phương đề nghị Tòa án căn cứ vào tình trạng mâu thuẫn của anh chị để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật; về con chung: Chị H1, anh T1 có 01 con là Nguyễn Gia Bảo, sinh ngày 05/9/2017, hiện cháu đang do Chị H1 nuôi dưỡng. Trường hợp anh chị ly hôn do cháu Bảo còn nhỏ, đang sống cùng mẹ ổn định nên địa phương đề nghị Tòa án giao cháu Bảo cho Chị H1 được trực tiếp nuôi dưỡng.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.
- Đại diện VKSND thị xã K phát biểu ý kiến, xác định Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không chấp hành.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân gia đình. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị H1 ly hôn anh Nguyễn Văn T1; về con chung: Giao con Nguyễn Gia Bảo, sinh ngày 05/9/2017 cho chị Lê Thị H1 trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của Chị H1 về việc không yêu cầu anh T1 phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con; về án phí: Chị Lê Thị H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng.
. Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ tranh chấp: Chị Lê Thị H1 khởi kiện tranh chấp về ly hôn, đây là tranh chấp quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn-anh Nguyễn Văn T1 có địa chỉ tại: Khu dân cư Trại Mới, phường HA, thị xã K nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã K theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng: Do anh Nguyễn Văn T1 vắng mặt, căn cứ khoản 5 Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho anh T1 thông qua người thân thích sinh sống cùng là bà Phạm Thị C1 (mẹ đẻ anh T1). Bà Chơi cam kết và đã giao lại tận tay cho anh T1. Như vậy, việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn hợp lệ theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có ly do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự HĐXX xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
. Về quan hệ hôn nhân.
Chị Lê Thị H1 kết hôn với anh Nguyễn Văn T1 vào ngày 13/4/2017 trên cơ sở được tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND phường HA, thị xã K, tỉnh Hải Dương. Đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, Chị H1 và anh T1 chung sống tại gia đình bố mẹ đẻ Chị H1 tại thôn L1, xã K1, huyện K2, tỉnh Hải Dương. Quá trình chung sống đến năm 2020 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh Nguyễn Văn T1 mải chơi, không quan tâm đến gia đình, có biểu hiện quan hệ nam nữ không lành mạnh. Do mâu thuẫn căng thẳng nên anh chị đã sống ly thân nhau từ tháng 4/2022 đến nay. Quá trình xác minh, chính quyền địa phương phường HA và người thân của Chị H1, anh T1 cũng xác định sự việc mâu thuẫn của Chị H1, anh T1 đã trầm trọng.
Từ những căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở xác định tình trạng hôn nhân giữa Chị H1, anh T1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, xử cho Chị H1 được ly hôn anh T1.
. Quan hệ về con chung.
. Chị H1, anh T1 có một con là Nguyễn Gia Bảo, sinh ngày 05/9/2017. Ly hôn, Chị H1 có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con và tự nguyện không yêu cầu anh T1 phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
. Xét điều kiện nuôi con của hai bên đương sự thì thấy: Anh Nguyễn Văn T1 vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, không có quan điểm về việc nuôi dưỡng con. Lời khai của bà Phạm Thị C1 (Mẹ anh T1) xác định: Anh T1 chơi cờ bạc và có quan hệ nam nữ không lành mạnh; chị Lê Thị H1 hiện làm công nhân tại Khu công nghiệp Nam Tài ở thị trấn Phú Thái, huyện Kim Thành, có thu nhập ổn định. Mặc dù Chị H1 chưa có chỗ ở riêng nhưng mẹ đẻ Chị H1 là bà Trần Thị H2 cam kết sẽ tạo mọi điều kiện về chỗ ở và hỗ trợ Chị H1 trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Gia Bảo. Cháu Nguyễn Gia Bảo do chị Hăng nuôi dưỡng sức khỏe tốt, phát triển bình thường; ngoài ra, bà bà Phạm Thị C1 và chính quyền địa phương phường HA đều có quan điểm là đề nghị Tòa án giao cháu Nguyễn Gia Bảo cho Chị H1 trực tiếp nuôi dưỡng.
. Căn cứ vào điều kiện nuôi con của Chị H1, anh T1, độ tuổi của con chung, trên cơ sở đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con và ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước về gia đình và trẻ em tại địa phương, HĐXX thấy rằng: Chị Lê Thị H1 đảm bảo điều kiện nuôi con tốt hơn anh Nguyễn Văn T1. Cháu Nguyễn Gia Bảo sinh sống ổn định, phát triển bình thường tại gia đình Chị H1. Do đó HĐXX sẽ giao cháu Nguyễn Gia Bảo cho Chị H1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Lê Thị H1 về việc không yêu cầu anh Nguyễn Văn T1 phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Điều 51, khoản 1 Điều 56; các điều: 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 và khoản 1 Điều 228, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H1. Xử cho chị Lê Thị H1 ly hôn anh Nguyễn Văn T1.
2. Về quan hệ con chung: Giao cho chị Lê Thị H1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Nguyễn Gia Bảo, sinh ngày 05/9/2017 đến khi con đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Lê Thị H1 về việc không yêu cầu anh Nguyễn Văn T1 phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Anh Nguyễn Văn T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Lê Thị H1 phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm ly hôn nhưng được đối trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã K theo biên lai số AA/2020/0001398 ngày 11/10/2022. Chị Lê Thị H1 đã thực hiện xong nghĩa vụ về án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- VKSND thị xã K;
- Chi cục THADS thị xã K;
- UBND phường HA (để vào sổ hộ tịch);
- Lưu hồ sơ vụ án.
Đặng Đức Huấn THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đặng Đức Huấn
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND thị xã K; - Chi cục THADS thị xã K; - UBND phường An Lưu (để vào sổ hộ tịch); - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đặng Đức Huấn |