- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị L -Phan Văn T"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ vào điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DK TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Án số : 02/2023/HNGĐ-ST Ngày : 13/01/2023 V/v “ Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
* Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh
* Các Hội thẩm nhân dân : Ông Nguyễn Thành
Bà Trần Thị Hoa
* Thư ký ghi biên bản phiên tòa : Bà Lê Thị Phương Thúy - CBTA
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện DK tham gia phiên tòa :
Bà Thái Thị Hương - KSV.
Hôm nay, ngày 13 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện DK mở phiên tòa công khai để xét xử vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 257/2022/TLST-HNGĐ ngày 07/10/2022 về việc: “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2022/QĐXX-ST ngày 13/12/2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 65/2022/QĐST-HNGĐ ngày 29/12/2022 giữa các đương sự sau:
* Nguyên đơn : Chị Lê Thị L - Sinh năm 1992.
Trú tại : Thôn Lễ Th - Diên Th1 - DK.
( Có mặt )
* Bị đơn : Anh Phan Văn T- Sinh năm 1985.
Trú tại : Thôn Lễ Th - Diên Th1 - DK.
( Vắng mặt )
NỘI DUNG VỤ ÁN :
- Nguyên đơn chị Lê Thị L trình bày :
Tôi và ông Phan Văn T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2011 nhưng đến năm 2012 mới làm đăng ký kết hôn tại UBND xã Diên Th1 - DK. Vợ chồng tôi có 02 con chung là :
Phan Thái B - Sinh ngày 23/01/2014.
Phan Ý Nh - Sinh ngày 19/09/2017.
Trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn mà nguyên nhân do tính tình hai bên không phù hợp, anh T không có trách nhiệm với gia đình, thường xuyên đi sớm về khuya và nhậu say xỉn, anh T có mối quan hệ trai gái bên ngoài không rõ ràng. Đã nhiều lần anh T đánh đập tôi, đuổi tôi ra khỏi nhà, hiện tại 03 mẹ con tôi đang đi ở nhà thuê, anh T không tôn trọng tôi, công khai mối quan hệ với người phụ nữ khác, tôi nhận thấy anh Tng ày càng tỏ thái độ với tôi và không muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình nên tôi yêu cầu được ly hôn anh T.
Về con chung : Tôi xin nuôi 02 cháu B và Nh, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung : Chúng tôi tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết và không có nợ chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định :
- Về thủ tục : Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập anh Phan Văn T đến tòa nhiều lần để giải quyết nhưng anh T vắng mặt không có lý do. Vì vậy, vụ án không tiến hành hòa giải được, Tòa án đã làm đầy đủ các thủ tục và đã hoãn phiên tòa lần thứ nhất, tại phiên tòa hôm nay anh Phan Văn T vẫn vắng mặt nên căn cứ vào điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
-
- Về nội dung : Chị Lê Thị L và anh Phan Văn T chung sống với nhau vào năm 2011 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn năm 2012 tại UBND xã Diên Th1 - DK. Đây là hôn nhân hợp pháp, trong quá trình chung sống chị L và anh T đã xảy ra nhiều mâu thuẫn nên chị L xin ly hôn.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện DK đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Tòa xét : Việc mâu thuẫn của chị L và anh T xảy ra do cách sống hai bên không phù hợp, theo chị L trình bày thì anh T không có trách nhiệm với gia đình, anh T không chung thủy với vợ con nên cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Hiện tại chị L và anh T đã sống ly thân, tại biên bản xác minh ngày 30/11/2022 của Công an xã Diên Th1
- DK thì anh T có hộ khẩu tại địa chỉ trên, hiện nay vẫn đang sinh sống tại địa phương nhưng khi Tòa án triệu tập thì anh T không đến tòa, điều này càng khẳng định rằng anh T cũng không quan tâm gì đến hạnh phúc gia đình. Do đó đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là phù hợp với điều 56 Luật hôn nhân gia đình.
- Về con chung : Giao 02 cháu Phan Thái B sinh năm 2014 và Phan Ý Nh sinh năm 2017 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu. Việc cấp dưỡng nuôi con chị L không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết, nếu sau này có đơn yêu cầu thì giải quyết bằng vụ kiện khác.
- Về tài sản chung : Anh T vắng mặt nên HĐXX không xem xét giải quyết.
- Về án phí : Chị L phải chịu án phí HNGĐ/ST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên !
QUYẾT ĐỊNH :
* Căn cứ vào điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình.
* Căn cứ vào 147, 227, 228, 235 Bộ luật tố tụng dân sự.
* Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Tuyên xử :
1/ Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn : Chị Lê Thị L được ly hôn anh Phan Văn T.
2/ Về con chung : Giao 02 cháu Phan Thái B - Sinh ngày 23/01/2014 và Phan Ý Nh
- Sinh ngày 19/09/2017 cho chị Lê Thị L trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Phan Văn T đến khi nào chị L có đơn yêu cầu thì giải quyết bằng vụ kiện khác.
Anh Phan Văn T được quyền thăm và chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
3/ Về tài sản chung : Anh Phan Văn T vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết và chị L xác nhận không có nợ chung.
4/ Về án phí : Chị Lê Thị L phải nộp 300.000đ án phí HNGĐ/ST. Số tiền này được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà L đã nộp theo biên lai thu tiền số 8013 ngày 07/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện DK.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày niêm yết bản án./.
| Nơi nhận : - TAT Khánh Hòa - VKS ND huyện DK - Chi cục THA/DS huyện DK - UBND xã Diên Th1 - Đương sự + Lưu HS | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thị Hồng Hạnh |