- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hèn-Hường"
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PRÔNG TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 02/2023/HNGĐ - ST Ngày 16/01/2023 “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PRÔNG, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Nhiều.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Công Chự và ông Nguyễn Ngọc Bình.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Quang Huy – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Prông – Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Kiên – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 271/2022/TLST-HNGĐ, ngày 26 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 271/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 271/2022/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Dương Thị Hèn, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Làng Tu 1, xã Ia Ga, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Ông Lê Tiến Hương, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Làng Tu 1, xã Ia Ga, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong đơn khởi kiện, tại bản tự khai, biên bản hòa giải, nguyên đơn bà Dương Thị Hèn trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Lê Tiến Hương qua tìm hiểu tự nguyện và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Đa Kia, huyện Phước Long, tỉnh Bình Phước ngày 01/3/2004. Năm 2005, vợ chồng tôi chuyển vào Làng Tu 1, xã Ia Ga, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng gần đây thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống ông Hương thường xuyên nhậu nhẹt và đánh đập tôi nhiều lần. Tôi và ông Hương đã sống ly thân từ khoảng tháng 03/2020. Nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa tôi và ông Hương không còn, do đó tôi làm đơn khởi kiện đến Tòa án yêu cầu ly hôn với ông Hương.
Về con chung: Trong thời gian chung sống tôi và ông Lê Tiến Hương có 03 con chung là Lê Thị Hồng Trang, sinh ngày 27/06/2001; Lê Thị Hồng Xuân, sinh ngày 12/01/2003 và Lê Anh Sang sinh ngày 14/02/2008. Đối với cháu Lê Thị Hồng Trang và Lê Thị Hồng Xuân hiện đã trưởng thành, có công việc riêng và tự lập nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Riêng cháu Lê Anh Sang hiện đang ở với tôi. Ly hôn, tôi yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Lê Anh Sang cho đến khi cháu Sang trưởng thành có khả năng lao động. Tôi không yêu cầu ông Hương phải cấp dưỡng nuôi cháu Sang.
Về tài sản chung và thực hiện nghĩa vụ về tài sản: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Lê Tiến Hương: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên hòa giải, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo về việc nêu ý kiến đối với phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông Hương không đến Tòa án để làm việc, không cung cấp cho Tòa án văn bản để trình bày quan điểm ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình.
Quá trình kiểm sát việc giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Prông có quan điểm như sau:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm quyền giải quyết, xác định tư cách pháp lý người tham gia tố tụng trong vụ án và Toà án ban hành thông báo thụ lý vụ án, gửi thông báo cũng như tiến hành các thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải, thu thập chứng cứ cũng như tống đạt văn bản tố tụng và đưa vụ án ra xét xử đúng thời hạn luật định. Việc tuân theo pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hôn nhân: Bà Dương Thị Hèn và ông Lê Tiến Hương được ly hôn trước pháp luật.
Về con chung: Có 03 con chung là Lê Thị Hồng Trang, sinh ngày 27/06/2001; Lê Thị Hồng Xuân, sinh ngày 12/01/2003 và Lê Anh Sang sinh ngày 14/02/2008. Đối với cháu Lê Thị Hồng Trang và Lê Thị Hồng Xuân hiện đã trưởng thành, có công việc riêng và tự lập nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Riêng cháu Lê Anh Sang bà Hèn có yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cũng như nguyện vọng của cháu Sang được ở với bà Hèn nên đề nghị HĐXX giao cháu Sang cho bà Hèn được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cho đến khi thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Về cấp dưỡng: Trong quá trình giải quyết vụ án bà Hèn không yêu cầu ông Hương phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Sang nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Về tài sản chung và thực hiện các nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Về án phí: Chị Hèn phải nộp án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, HĐXX xét thấy:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án về ly hôn, tranh chấp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con quy định tại khoản 1 và 5 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn bà Dương Thị Hèn và bị đơn ông Lê Tiến Hương cùng có nơi cư trú tại huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai nên Tòa án nhân dân huyện Chư Prông thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Đối với nguyên đơn bà Dương Thị Hèn ngày 15/12/2022 đã có đơn xin xét xử vắng mặt, trong đơn xin xét xử vắng mặt bà Hèn trình bày vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, ý kiến như trong bản tự khai và biên bản hòa giải. Đối với bị đơn ông Lê Tiến Hương đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Do vậy, HĐXX quyết định xét xử vắng mặt, nguyên đơn và bị đơn là đúng với quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Hội đồng xét xử nhận thấy việc kết hôn giữa bà Hèn và ông Hương ngày 01/3/2004 tại Uỷ ban nhân dân xã Đa Kia, huyện Phước Long, tỉnh Bình Phước là hoàn toàn tự nguyện, đúng pháp luật, không bị lừa dối, ép buộc, không vi phạm điều kiện kết hôn nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tóa án theo quy định tại Điều 173 của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng ông Hương không đến Toà án để làm việc, không cung cấp cho Toà án văn bản trình bày ý kiến cũng như các chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Như vậy, căn cứ Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự thì ông Hương đã từ bỏ quyền chứng minh của mình đối với vụ án và không phản đối những tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn giao nộp cho Tòa án. Điều này chứng tỏ ông Hương không có trách nhiệm đối với hôn nhân của mình, không có thiện chí trong việc giải quyết mâu thuẫn gia đình và hàn gắn tình cảm vợ chồng và phù hợp với lời trình bày có xác nhận của chính quyền địa phương về tình trạng hôn nhân giữa bà Hèn và ông Hương. Do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Hèn đối với ông Hương.
[4] Về nuôi con: Bà Hèn và ông Hương có 03 con chung là Lê Thị Hồng Trang, sinh ngày 27/06/2001; Lê Thị Hồng Xuân, sinh ngày 12/01/2003 và Lê Anh Sang sinh ngày 14/02/2008. Đối với cháu Lê Thị Hồng Trang và Lê Thị Hồng Xuân hiện đã trưởng thành, có công việc riêng và tự lập nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Riêng cháu Lê Anh Sang bà Hèn có yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cũng như nguyện vọng của cháu Sang được ở với bà Hèn. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết giao cháu Lê Anh Sang cho bà Hèn được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[5] Về cấp dưỡng: Trong quá trình giải quyết vụ án bà Hèn không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi cháu Lê Anh Sang cũng như ông Hương không có ý kiến gì về việc cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không xem xét.
[6] Về tài sản chung và thực hiện các nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[7] Về án phí: Bà Hèn phải nộp án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 4, 5, 6; khoản 1, 5 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Thị Hèn được ly hôn với ông Lê Tiến Hương.
2. Về con chung: Giao con chung là Lê Anh Sang sinh ngày 14/02/2008 cho bà Hèn được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên hoặc đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
3. Về cấp dưỡng: Nguyên đơn bà Dương Thị Hèn không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con chung cũng như bị đơn ông Lê Tiến Hương không có ý kiến gì về việc cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Người không trực tiếp nuôi dưỡng con vẫn có quyền đến thăm nom con, người trực tiếp nuôi con không được cản trở nếu họ không lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con của người trực tiếp nuôi con.
Vì lợi ích của con, trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, theo yêu cầu của một hoặc hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con. Hai đương sự đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Dương Thị Hèn phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp trước đây là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0004707 ngày 21 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai. Bà Dương Thị Hèn đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tinh Gia Lai; - VKSND h. Chư Prông; - Chi cục THADS h. Chư Prông; - Các đương sự ; - Lưu hồ sơ/VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Văn Nhiều |