- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "Phùng Thị Khe - Triệu Trung Du"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí…
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƢ M’GAR | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐĂK LĂK Bản án số: 02/2023/HNGĐ-ST Ngày 17/01/2023 “V/v: tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƢ M’GAR , TỈNH ĐĂK LĂK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-chủ toạ phiên toà: Ông Y Lợi Niê
Các Hội thẩm nhân dân : Ông Y Tha Mlô, bà Bùi Thị Hà
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Đức Đuống – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lăk tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2023 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Cư M’gar, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 408/2022/TLST–HNGĐ, ngày 12 tháng 10 năm 2022, về việc: “tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2022/QĐXX-ST ngày 02/12/2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 33/2022/QĐST-HNGĐ ngày 23/12/2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phùng Thị Kh – Sinh năm: 1983 (Có đơn xin vắng mặt)
Nơi ĐKHK TT: Thôn Hiệp Thành, xã Quang Hiệp, huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lăk. Chỗ ở hiện nay: Thôn ĐL, xã Đ Nh, huyện BĐ, tỉnh BP.
- Bị đơn: Anh Triệu Trung D – Sinh năm: 1983
(Vắng mặt) Nơi cư trú cuối cùng: Thôn H Th, xã QH, huyện CM, tỉnh ĐL.
NỘI DUNG VỤ ÁN;
Theo đơn khởi kiện đề ngày 26/9/2022, trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Phùng Thị Kh trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phùng Thị Kh và anh Triệu Trung D đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 16/9/2008 tại UBND xã QH, huyện CM, tỉnh ĐL trên cơ sở hai bên tự nguyện.
Trong quá trình chung sống do bất đồng quan điểm sống và mâu thuẫn về vấn đề kinh tế nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cuộc sống gia đình không hạnh phúc. Tháng 12 năm 2019 anh Triệu Trung D bỏ nhà đi, đi đâu chị Kh không biết, đến năm 2021 chị Kh yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Triệu Trung D mất tích. Từ ngày Tòa án tuyên bố anh Triệu Trung Du mất tích cho đến nay thì vẫn không có tin tức gì của anh Du. Vì vậy chị Kh yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn giữa chị và anh Du.
- Về con chung: Chị và anh D có 02 con chung, là cháu Triệu Văn Ph, sinh ngày 26/11/2005 và Triệu Thị H, sinh ngày 13/6/2008, hiện nay hai cháu khỏe mạnh, phát triển bình thường và đang sống cùng chị Kh. Nguyện vọng của chị Kh là được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 cháu đến khi đủ 18 tuổi. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Kh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị Kh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Triệu Trung D:
Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã nhiều lần Tòa án niêm yết giấy báo, giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác cho anh Triệu Trung D theo đúng quy định của pháp luật nhưng anh Triệu Trung D không đến tòa làm việc nên không ghi nhận được lời khai cũng như ý kiến của anh Triệu Trung D.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về quan điểm giải quyết vụ án:
Đối với Thẩm phán: Về cơ bản đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015.
Đối với Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Đối với đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tuy nhiên tại phiên tòa nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng; Bị đơn đã không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không đến Tòa án tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật mà không có lý do chính đáng.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 51; 56; 81; 82; 83,84 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phùng Thị Kh. Chị Phùng Thị Kh được ly hôn với anh Triệu Trung D. Giao con chung là cháu Triệu Văn Ph, sinh ngày 26/11/2005 và Triệu Thị H, sinh ngày 13/6/2008 cho chị Phùng Thị Kh tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Về án phí: Chị Phùng Thị Kh phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, con chung với bị đơn có nơi cư trú cuối cùng tại Thôn H Th, xã QH, huyện CM nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Đối với nguyên đơn có đơn xin được xét xử vắng mặt.
Đối với bị đơn: Mặc dù được Tòa án niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn vẫn vắng mặt lần hai không có lý do, do đó Hội đồng xét xử áp dụng điểm a,b khoản 2 Điều 227 và Điều 238 Bộ luật tố tụng Dân sự để xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn.
[3] Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời trình bày của đương sự và các tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phùng Thị Kh và anh Triệu Trung D kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn 16/9/2008 tại UBND xã QH, huyện CM, tỉnh ĐL, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống, vợ chồng chị Kh, anh Du phát sinh nhiều mâu thuẫn, cãi vã, đến năm 2019 thì anh Triệu Trung D bỏ đi khỏi địa phương. Ngày 21/7/2022 anh Triệu Trung D bị Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar tuyên bố mất tích theo Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 06/2022/QĐST-DS. Theo kết quả xác minh thì từ ngày bị Tòa án tuyên bố mất tích cho không có mặt tại địa phương. Việc chị Phùng Thị Kh yêu cầu giải quyết ly hôn là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.
[3.2] Về con chung: Chị Kh và anh D có 02 con chung là cháu Triệu Văn Ph, sinh ngày 26/11/2005 và Triệu Thị H, sinh ngày 13/6/2008. Nguyện vọng của chị Kh được quyền trực tiếp nuôi con, nguyện vọng của cháu Ph và H cũng muốn ở với mẹ nên cần giao cháu Ph và H cho chị Kh trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi là phù hợp.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Chị Kh không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập.
[3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Kh không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3.3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình. Bị đơn không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 238; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng: Khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phùng Thị Kh.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phùng Thị Kh được ly hôn với anh Triệu Trung D.
- Về con chung: Giao cháu Triệu Văn Ph, sinh ngày 26/11/2005 và Triệu Thị H sinh ngày 13/6/2008 cho chị Phùng Thị Kh trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con chưa thành niên Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi có đương sự yêu cầu
- Về án phí: Chị Phùng Thị Kh phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ số tiền 300.000 đồng đã nộp tiền tạm ứng án phí theo số AA/2021/ 0013695 ngày 05/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lăk.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn luật định là 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND,VKSND tỉnh Đăk Lăk;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện Cư M’gar;
- Chi cục THADS huyện Cư M’gar;
(Đã ký)
- Các đương sự;
- UBND xã QH;
- Lưu hồ sơ, văn thư lưu trữ.
Y Lợi Niê
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND,VKSND tỉnh Đăk Lăk; - VKSND huyện Cư M’gar; - Chi cục THADS huyện Cư M’gar; - Các đương sự; - UBND xã Ea Kuêh; - Lưu hồ sơ, văn thư lưu trữ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Y Lợi Niê |