- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Hương - Hoàng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thị H, sửa bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 152/2022/HNGĐ-ST ngày 07 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm.
- Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2023/HNGĐ-PT Ngày 12 - 4 - 2023 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con sau khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quang Tú
Các Thẩm phán:
Ông Hoàng Hữu Tăng
Bà Vũ Thị Nga
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Bá Thuận, là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên: Bà Nguyễn Thị Anh, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 06 và 12 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 03/2023/TLPT-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2023 về tranh chấp Ly hôn và nuôi con sau khi ly hôn.
Do bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 152/2022/HNGĐ-ST ngày 07 tháng 11 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2023/QĐXXPT-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn Ch, xã L, huyện G, Thành phố HN; “có mặt”
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị H: Ông Nguyễn Ngọc H và ông Đinh Đức D - Luật sư Văn phòng Luật sư Kết Nối thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội. Địa chỉ: Số 53/53/ Vũ Xuân Thiều, phường S, quận L, Tp.HN; “Luật sư Duy có mặt, luật sư Hùng vắng mặt”
- Bị đơn: Anh Cao Văn H, sinh năm 1983; Địa chỉ: thôn N, xã T, huyện V, tỉnh H; “vắng mặt”
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Cháu Cao Hoàng Ph, sinh ngày 06 tháng 3 năm 2013; “vắng mặt”
2. Cháu Cao Minh Tr, sinh ngày 18 tháng 8 năm 2019; “vắng mặt”
Người giám hộ cho Cháu Ph và Cháu Tr: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1984, là mẹ; “có mặt”
Đều địa chỉ: thôn Ch, xã L, huyện GL, Thành phố H N.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 10 tháng 02 năm 2022 và lời khai của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Htrong quá trình giải quyết vụ án thể hiện: Chị H có đăng ký kết hôn với Anh Cao Văn H tại Ủy ban nhân dân xã Tân Quang ngày 13 tháng 3 năm 2012. Sau khi tổ chức lễ cưới chị về gia đình anh H sinh sống, nhưng vợ chồng không hòa thuận, không hạnh phúc do anh H không đi làm, thường uống rượu đánh chửi chị và các con. Chị đã đưa hai con về nhà bố mẹ đẻ sống, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2020 cho đến nay. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hai bên khuyên giải nhưng không được nên chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh H.
Về con chung: Chị và anh H có hai con chung là Cháu Cao Hoàng Ph, sinh ngày 06 tháng 3 năm 2013 và Cháu Cao Minh Tr sinh ngày 18 tháng 8 năm 2019 đều đang ở với mẹ. Chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản, công nợ, ruộng nông nghiệp, công sức: Chị H xác định vợ chồng chị không có tài sản chung, không công nợ với ai, không có ruộng nông nghiệp, không có công sức đóng góp với hai bên gia đình nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn Anh Cao Văn H có lời khai thống nhất với lời khai của chị H về việc đăng ký kết hôn, con chung, tài sản, công nợ, công sức và ruộng nông nghiệp. Theo anh H vợ chồng phát sinh mâu thuẫn khoảng hai năm trở lại đây, nguyên nhân phát sinh từ những thứ nhỏ nhặt trong cuộc sống hàng ngày như làm việc nhà, chi tiêu, sinh hoạt không hợp nhau dẫn đến to tiếng. Chị H tự bỏ đi do thấy rằng sống với anh không hạnh phúc, nên vợ chồng anh không còn chung sống với nhau khoảng hai năm trở lại đây. Anh H mong muốn vợ chồng đoàn tụ để chăm sóc con chung nhưng nếu chị H cương quyết ly hôn thì anh cũng tôn trọng quyết định của chị H. Về con chung, anh H đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu và không yêu cầu Tòa án giải quyết đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản, nghĩa vụ chung của vợ chồng, ruộng nông nghiệp và công sức anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản án số 152/2022/HNGĐ-ST ngày 07/11/2022, Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm đã quyết định: Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; Điều 238 khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Khoản 1, Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H, xử cho chị Nguyễn Thị Hđược ly hôn với Anh Cao Văn H, về con chung: Giao Cháu Cao Hoàng Ph, sinh ngày 06/3/2013 cho chị Nguyễn Thị Htrực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Giao Cháu Cao Minh Tr, sinh ngày 18/8/2019 cho Anh Cao Văn H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Chị H và anh H không ai phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con cho ai. Chị H và anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được ngăn cản quyền này. Về công nợ, tài sản chung, công sức và ruộng nông nghiệp: Không giải quyết.
Ngoài ra bản án còn quyết định về án phí, và quyền kháng cáo.
Ngày 12 tháng 12 năm 2022, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hkháng cáo một phần bản án theo hướng đề nghị Toà án cấp phúc thẩm giải quyết cho chị H được trực tiếp nuôi cả hai con chung.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Chị H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo đề nghị được nuôi hai con chung là Cháu Ph và Cháu Tr vì từ năm 2020 hai con đã có cuộc sống ổn định cùng chị. Chị có công việc ổn định, được gia đình thường xuyên hỗ trợ chăm sóc các con và cho đất, làm nhà để mẹ con chung sống. Cháu Tr là con gái đã không được sự quan tâm của bố từ nhỏ, bản thân anh H không có công việc sinh hoạt không nề nếp nên không thể chăm lo cho Cháu Tr. Nếu được nuôi cả hai con, chị không yêu cầu anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị H đề nghị Toà án giao cho chị H nuôi hai con chung.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên phát biểu quan điểm:
Kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, và nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, kháng cáo của chị H là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 điều 308, điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa bản án sơ thẩm, giao Cháu Ph và Cháu Tr cho chị H nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh H có quyền thăm nom, chăm sóc con chung.
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Bị đơn Anh Cao Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án xét xử theo quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của chị Nguyễn Thị Hthấy con chung của anh chị đều đang sống cùng chị H, Cháu Cao Hoàng Ph, sinh ngày 06 tháng 3 năm 2013 có nguyện vọng được sống cùng mẹ, Cháu Cao Minh Tr, sinh ngày 18 tháng 8 năm 2019 mới đủ 03 tuổi trong khi sự thừa nhận của anh chị về thời gian vợ chồng sống ly thân đã có căn cứ xác định Cháu Tr đã sống cùng mẹ từ khi chưa được một tuổi. Thực tế anh chị cũng đã thỏa thuận chị H được trực tiếp nuôi hai con sau khi ly hôn, anh H thay đổi xin được nuôi một con nhưng quá trình Tòa án hòa giải, xét xử anh không có mặt để bảo vệ quyền được nuôi dưỡng, chăm sóc con chung chứng tỏ anh H thiếu mẫu mực trong lối sống và thỏa thuận của anh chị về con chung là đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung sau khi ly hôn. Chị H đã có nơi ở và công việc ổn định, được sự hỗ trợ đầy đủ của gia đình trong việc chăm sóc con chung, hai con của anh chị đã sống ổn định cùng mẹ trong khi anh H không chứng minh được việc quan tâm chăm lo đến các con nên sẽ sửa án sơ thẩm giao chị H được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc Cháu Cao Minh Tr để tránh ảnh hưởng đến cuộc sống và tâm lý của cháu. Chị H không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung nên không đặt ra giải quyết.
Án phí: Do sửa án sơ thẩm nên chị H không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thị H, sửa bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 152/2022/HNGĐ-ST ngày 07 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 148, khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 81, Điều 82, Điều 83, và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
Giao chị Nguyễn Thị Htrực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con chưa thành niên là Cao Hoàng Ph, sinh ngày 06 tháng 3 năm 2013 và Cao Minh Tr sinh ngày 18 tháng 8 năm 2019. Anh Cao Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở anh H thực hiện quyền này; nếu anh H lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế việc thăm nom con của anh H.
Công nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị Hkhông yêu cầu được cấp dưỡng nuôi con chung; trên cơ sở lợi ích của con, chị H có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên.
Anh Cao Văn H, chị Nguyễn Thị Hhoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hkhông phải chịu án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm, hoàn trả lại chị H số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0011863 ngày 12 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lâm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hưng Yên; - TA, THA huyện Văn Lâm; - Các đương sự; - Lưu HSVA. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trương Quang Tú |