- Tranh chấp gì? án dân sự — "Hoà - Hoàng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan Bá H về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” đối với bị đơn ông Nguyễn Thanh H và bà Phạm Thị Kiều Ph.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Số: 02/2023/DSST Ngày: 06-01-2023 V/v: “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ – TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Hoàng Chân
Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Đăng Khoa
2. Bà Trần Lệ Nga
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diễm Trinh – Cán bộ Toà án nhân dân thành phố Rạch Giá.
Trong ngày 06 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 271/2022/TLST-DS ngày 12 tháng 12 năm 2022 về: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:81/2022/QĐST-DS ngày 27/12/2022, giữa:
Nguyên đơn: Ông Phan Bá H, sinh năm 1974
Địa chỉ: 838A đường Mạc C, phường Vĩnh Q, TP. Rạch Gí, tỉnh Kiên G.
Bị đơn: - Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1973
- Bà Phạm Thị Kiều Ph, sinh năm 1970
Địa chỉ: 11/106 Văn Tiến D, phường Vĩnh H, thành phố Rạch Gi, tỉnh Kiên G.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 20/9/2022 và tại phiên tòa nguyên đơn ông Phan Bá H trình bày: Nguyên trước vào khoảng tháng 10 năm 2019 ông H có cho vợ chồng ông Nguyễn Thanh H và bà Phạm Thị Kiều Ph vay số tiền 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng) lãi suất thoả thuận 5%/ tháng, mỗi tháng đóng lãi 12.500.000 đồng (Mười hai triệu năm trăm ngàn đồng) vợ chồng ông H và bà Ph có viết giấy nợ ngày 29/10/2019 và hứa khi nào cần lấy vốn lại thì cho hay trước một tháng. Sau khi vay xong vợ chồng ông H bà Ph đóng lãi được 2 tháng bằng 24.000.000 đồng (Hai mươi bốn triệu đồng) rồi ngưng luôn cho tới nay không trả vốn và cũng không trả lãi. Ông H có đến nhà đòi lại số tiền gốc nhiều lần nhưng ông H bà Ph không trả mà hứa lần hết tháng này đến tháng khác. Ông H có khởi kiện vợ chồng ông H bà Ph đến chính quyền địa phương thì vợ chồng ông H hứa trả mỗi tháng 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Vợ chồng ông H trả gốc được 3 lần bằng 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) rồi ngưng không thực hiện tiếp cho tới nay.
Tại toà án ông Phan Bá H yêu cầu toà án nhân dân thành phố Rạch Giá buộc vợ chồng ông Nguyễn Thanh H và bà Phạm Thị Kiều Ph trả cho ông H số tiền vốn gốc 235.000.000 đồng (Hai trăm ba mươi lăm triệu đồng) và không yêu cầu tính lãi.
* Bị đơn ông Nguyễn Thanh H và bà Phạm Thị Kiều Ph trình bày: Vợ chồng bà Phạm Thị Kiều Ph và ông Nguyễn Thanh H xác nhận ngày 29/10/2019 có vay của ông Phan Bá H số tiền 250.000.000 đồng là đúng. lãi suất thoả thuận 5%/tháng, mỗi tháng đóng lãi 12.500.000 đồng (Mười hai triệu năm trăm ngàn đồng) vợ chồng ông H và bà Ph có viết giấy nợ ngày 29/10/2019 và hứa khi nào cần lấy vốn lại thì cho hay trước một tháng. Sau khi vay xong ông H bà Ph đóng lãi được 13 tháng bằng 162.500.000 đồng (Một trăm sáu mươi lăm triệu, năm trăm ngàn đồng) thì ngưng do bệnh dịch làm ăn không được. Sau đó ngưng 3 tháng thì xin đóng lãi lại mỗi tháng 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) đóng được 11 tháng bằng 44.000.000 đồng (Bốn mươi bốn triệu đồng) thì ngưng, đến ngày 28/03/2022 xin trả vốn mỗi tháng 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) đóng được 3 tháng bằng 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) thì ngưng luôn cho tới nay. Ông H bà Ph xác nhận hiện nay còn nợ ông H số tiền vốn gốc 235.000.000 đồng (Hai trăm ba mươi lăm triệu đồng). Những lần đóng lãi cho ông H vợ chồng chỉ viết sổ riêng để theo giỏi chứ không có cho ông H ký tên xác nhận.
Do làm ăn thất bại mất khả năng thanh toán nên đến nay chưa trả được nợ gốc cho ông H.
Nay tại Tòa bà Phạm Thị Kiều Ph và ông Nguyễn Thang H yêu cầu xin trả dần số tiền vốn gốc mỗi tháng 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) cho đến khi dứt nợ. Ông bà không yêu cầu tính lãi lại
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn – Ông Phan Bá H yêu cầu bị đơn – ông Nguyễn Thanh H và bà Phạm Thị Kiều Ph thanh toán số tiền còn nợ là 235.000.000 đồng(Hai trăm ba mươi lăm triệu đồng) và yêu cầu trả tiền lãi theo quy định pháp luật tính từ ngày 06 tháng 02 năm 2022 cho đến nay. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp giữa Ông Phan Bá H yêu cầu bị đơn – ông Nguyễn Thanh H và bà Phạm Thị Kiều Ph là “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Các đương sự tranh chấp về hợp đồng dân sự, bị đơn có nơi cư trú số 11/106 đường Văn Tiến D, khu phố Dãy Ố, phường Vĩnh H thành phố Rạch Gí, tỉnh Kiên G. Do đó, căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, kèm theo tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn đã cung cấp cho Tòa án là giấy mượn tiền lập ngày 29/10/2019 về số tiền 250.000.000 đồng. Đến ngày 28/03/2022 vợ chồng ông H có trả vốn gốc được 3 lần mỗi lần 5.000.000 đồng = 15.000.000 đồng thì ngưng luôn cho tới nay. vợ chồng ông H và bà Ph không trả khoản tiền lãi và gốc nào thêm, xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ Số tiền nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tại phiên tòa hôm nay cũng phù hợp với biên nhận mượn tiền ngày 29/10/2019 của bị đơn vợ chồng ông H và bà Ph là vợ chồng ông bà còn nợ ông H số tiền 235.000.000 đồng (Hai trăm ba mươi lăm triệu đồng) và không yêu cầu trả lãi. Tại bản tự khai ngày 27/12/2022 có ý kiến thừa nhận khoảng tháng 10/2019 có mượn ông H 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng) có thoả thuận lãi suất 5%/tháng. Bà Ph ông H cho rằng đã trả cho ông Hoàng 3 lần = 15.000.000 đồng tiền nợ gốc và có đóng lãi nhiều lần được 13 tháng bằng 162.500.000 đồng (Một trăm sáu mươi lăm triệu, năm trăm ngàn đồng) thì ngưng do bệnh dịch làm ăn không được. Sau đó ngưng 3 tháng thì xin đóng lãi lại mỗi tháng 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) đóng được 11 tháng bằng 44.000.000 đồng (Bốn mươi bốn triệu đồng) thì ngưng luôn cho tới nay. Nhưng ông H bà Ph không có cung cấp chứng cứ gì chứng minh đối với việc đóng lãi.
Do các bên đã tự nguyện giao kết hợp đồng dân sự vay tài sản. Vợ chồng ông H và bà Ph là người đã vay tài sản và đã nhận đủ tài sản theo thỏa thuận, nhưng ông bà vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 471; Điều 474 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về hợp đồng vay tài sản, nghĩa vụ trả nợ của bên vay thì vợ chồng ông H và bà Ph phải có trách nhiệm thanh toán cho ông H số tiền gốc là phù hợp quy định pháp luật, nên Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan Bá H yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Thanh H và bà Phạm Thị Kiều Ph có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn ông Phan Bá H số tiền vốn gốc 235.000.000 đồng(Hai trăm ba mươi lăm triệu đồng).
[II] Về án phí sơ thẩm:
Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH124 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Buộc bị đơn ông Nguyễn Thanh H và bà Phạm Thị Kiều Ph phải nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền là 235.000.000 đồng x 5% = 11.750.000 đồng. (Mười một triệu, bảy trăm năm mươi ngàn đồng).
- Do yêu cầu của ông Phan Bá H được chấp nhận nên ông H không phải chịu án phí. Ông H đã tạm nộp án phí dân sự sơ thẩm 5.875.000 đồng đã nộp tại Chi cu ̣c thi hành án dân sự thành phố Ra ̣ch Giá theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004791, ngày 29/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang nên ông Hoà được hoàn trả lại số tiền 5.875.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 471; Điều 474 Bộ luật dân sự 2005;
- Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan Bá H về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” đối với bị đơn ông Nguyễn Thanh H và bà Phạm Thị Kiều Ph.
2. Buộc bị đơn ông Nguyễn Thanh H và bà Phạm Thị Kiều Ph trả cho nguyên đơn ông Phan Bá H số tiền vốn gốc 235.000.000 đồng (Hai trăm ba mươi lăm triệu đồng). Sau khi án có hiệu lực pháp luật.
3. Về án phí sơ thẩm:
- Buộc bị đơn ông Nguyễn Thanh H và bà Phạm Thị Kiều Ph phải nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền là 235.000.000 đồng x 5% = 11.750.000 đồng. (Mười một triệu, bảy trăm năm mươi ngàn đồng).
- Do yêu cầu của ông Phan Bá H được chấp nhận nên ông H không phải chịu án phí. Ông H đã tạm nộp án phí dân sự sơ thẩm 5.875-.000 đồng đã nộp tại Chi cu ̣c thi hành án dân sự thành phố Ra ̣ch Giá theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004791, ngày 29/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang nên ông H được hoàn trả lại số tiền 5.875.000 đồng.
4. Về nghĩa vụ thi hành án: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Kiên Giang;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND TP. Rạch Giá;
- Chi cục THA dân sự TP. Rạch Giá;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Trương Hoàng Chân
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND TP. Rạch Giá; - Chi cục THA dân sự TP. Rạch Giá; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Hoàng Chân HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán chủ tọa phiên tòa |