- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Diễm H về việc yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Văn M2, bà Nguyễn Thị M trả cho chị số tiền 5.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 02/2023/DS-ST Ngày: 13/01/2023 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Quyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Văn Năng;
2. Ông Nguyễn Hoàng Tiến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên toà: Không tham gia.
Ngày 13 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 139/2022/TLST-DS ngày 13 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 280/2022/QĐXX-ST ngày 13 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên toà số 226/2022/QĐST-DS ngày 28 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Diễm H, sinh năm 1992;
Nơi cư trú: tổ 01, ấp X, xã L, huyện T, tỉnh A.
Người đại diện theo uỷ quyền: Chị Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1990; Cư trú: tổ 06, khóm A, thị trấn B, huyện T, tỉnh A; Chỗ ở hiện nay: đường L, hẻm 8, khóm 3, thị trấn T, huyện T, tỉnh A. (Theo giấy uỷ quyền ngày 07/9/2022) (có mặt)
2. Bị đơn:
2.1 Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1976; (vắng mặt)
2.2 Ông Nguyễn Văn M2, sinh năm 1973; (vắng mặt)
Cùng cư trú: ấp V, xã Vĩnh Nh, huyện Ch, tỉnh A.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn Lê Diễm H do chị Nguyễn Thị Nh làm đại diện theo ủy quyền trình bày:
Bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Văn M2 là chỗ quen biết với cha mẹ chị H, nên vào ngày 14/5/2021 (dl) vợ chồng ông M2, bà M có hỏi mượn chị H số tiền 100.000.000 đồng để xoay sở việc làm ăn kinh tế trong gia đình (không có làm biên nhận vay). Thời hạn vay là 03 tháng kể từ ngày vay và lãi suất thỏa thuận, nhưng từ khi vay đến nay vợ chồng ông Nguyễn Văn M2 và bà Nguyễn Thị M không trả cho chị H khoản tiền gốc và lãi nào, mặc dù chị H đã liên hệ ông M2, bà M nhiều lần để đòi lại số tiền trên nên vợ chồng ông M2, bà M có hứa làm 02 tờ biên nhận cam kết có thừa nhận nợ chị H để trả gồm: Tờ cam kết trả nợ ngày 11/5/2022 (dl) và tờ cam kết trả nợ ngày 14/5/2022 (al). Nhưng từ khi làm cam kết đến nay vợ chồng ông M2 không thực hiện và không trả cho chị H khoản tiền nào. Do đó, chị H khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn M2, bà Nguyễn Thị M có trách nhiệm trả cho chị số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) và tiền lãi suất theo quy định pháp luật tính từ ngày vay 14/5/2021 (dl) đến ngày xét xử xong.
Tại Biên bản hòa giải ngày 02/11/2022 đại diện theo ủy quyền của chị H trình bày: Thống nhất bà M, ông M2 còn nợ chị H số tiền gốc là 95.000.000 đồng, yêu cầu bà M, ông M2 phải trả cho chị H số tiền vốn gốc là 95.000.000 đồng và tiền lãi suất theo quy định pháp luật tính từ ngày vay 14/5/2021 (dl) đến khi trả nợ xong.
* Bị đơn ông Nguyễn Văn M2, bà Nguyễn Thị M trình bày:
Giữa gia đình ông bà và chị Lê Diễm H có mối quan hệ làm ăn với nhau từ nhiều năm nay. Ông bà có xe Kobe và xe Rùa nhận vận chuyển đất thuê cho gia đình chị Lê Diễm H làm tà lệch cung cấp cho các lò gạch. Quá trình làm ăn ông bà gặp nhiều khó khăn, thất bại nên có hỏi mượn tiền của chị H. Mượn làm nhiều lần, đôi lúc ông bà có trả, cũng có nợ lại chị H. Tính đến tháng 5/2021, thì ông bà còn nợ chị H số tiền là 100.000.000 đồng. Do ông bà chậm trễ trong việc trả nợ nên chị H có cho một số người lạ mặt đến nhà ông bà gây sự, hăm dọa buộc ông bà phải trả nợ. Sự việc đã được Ban ấp Vĩnh Lợi và Công an xã Vĩnh Nhuận can thiệp, giải quyết. Qua thỏa thuận với chị H thì ông bà sẽ trả nợ cho chị H dần từng tháng, mỗi tháng là 5.000.000 đồng/tháng. Thời gian bắt đầu trả kể từ ngày 14/5/2021 cho đến khi dứt nợ. Vào tháng 6/2021 ông bà có trả cho chị H số tiền là 5.000.000 đồng. Nhưng đang trong thời gian làm ăn thất bại, ông bà đã bán xe Kobe và xe Rùa, hiện ông bà không còn pH tiện kiếm ra tiền nữa, lâm vào tình trạng hết sức khó khăn nên việc trả nợ có bị trễ hẹn.
Đối với yêu cầu khởi kiện của chị H yêu cầu ông bà trả số tiền gốc 100.000.000 đồng thì ông, bà không đồng ý, ông bà chỉ đồng ý trả cho chị H số tiền là 95.000.000 đồng, vì ông bà đã trả cho chị H số tiền 5.000.000 đồng rồi, ông bà chỉ còn nợ của chị H số tiền 95.000.000 đồng, nên chỉ đồng ý trả số tiền trên và đồng ý trả tiền lãi theo quy định pháp luật từ 14/5/2021 (dl) đến khi trả nợ xong. Do hoàn cảnh gia đình khó khăn không còn tài sản và phương tiện làm ăn, chỉ làm mướn hàng ngày nên ông bà yêu cầu được trả dần từng tháng số tiền 95.000.000 đồng cho đến khi hết nợ và đồng ý trả tiền lãi theo quy định pháp luật từ 14/5/2021 (dl) đến khi trả nợ xong.
Tại phiên toà:
- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 5.000.000 đồng, chỉ yêu cầu bị đơn ông M2, bà M trả cho chị H số tiền 95.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi suất theo quy định pháp luật là 1,66%/tháng từ ngày 14/5/2021 đến khi xét xử.
- Bị đơn ông M2, bà M vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về áp dụng pháp luật tố tụng:
1.1 Về quan hệ pháp luật: nguyên đơn chị Lê Diễm H khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Văn M2, bà Nguyễn Thị M trả số tiền vay theo tờ cam kết trả nợ ngày 11/5/2022 (dl) và tờ cam kết trả nợ ngày 14/5/2022 (al), đây là tranh chấp dân sự - hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
1.2 Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Nguyễn Văn M2, bà Nguyễn Thị M hiện có nơi cư trú tại ấp V, xã Vĩnh Nh, huyện Ch, tỉnh A căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
1.3 Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Nguyễn Văn M2, bà Nguyễn Thị M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông M2, bà M.
Về áp dụng pháp luật nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Diễm H thấy:
Tại đơn khởi kiện chị H yêu cầu Toà án buộc bà M, ông M2 phải trả cho chị số tiền vay là 100.000.000 đồng. Tại Biên bản hòa giải ngày 02/11/2022 và tại phiên toà hôm nay đại diện theo ủy quyền của chị H trình bày: Thống nhất bà M, ông M2 còn chị H nợ số tiền gốc là 95.000.000 đồng, yêu cầu bà M, ông M2 trả số tiền vốn gốc là 95.000.000 đồng và xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 5.000.000 đồng, chỉ yêu cầu ông M2, bà M trả cho chị số tiền 95.000.000 đồng. Việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện nên căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu này.
Căn cứ tờ cam kết trả nợ ngày 11/5/2022 (dl) và tờ cam kết trả nợ ngày 14/5/2022 (al) thì giữa nguyên đơn chị Lê Diễm H và bị đơn bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn M2 có xác lập hợp đồng vay tài sản với số tiền là 100.000.000 đồng. Mặt khác, tại Bản tự khai ngày 19/10/2022 thì ông M2, bà M thừa nhận có vay tiền của chị H nhiều lần, tính đến tháng 5/2021 thì còn nợ chị H số tiền là 100.000.000 đồng và có trả được 5.000.000 đồng, nên ông bà chỉ còn nợ chị H số tiền 95.000.000 đồng; tại Biên bản hòa giải ngày 02/11/2022 đại diện theo ủy quyền của chị H thống nhất bà M, ông M2 còn chị H nợ số tiền gốc là 95.000.000 đồng. Từ đó đã có cơ sở xác định số tiền nợ gốc mà bị đơn còn nợ nguyên đơn đến thời điểm hiện tại là 95.000.000 đồng.
Xét thấy, sự thoả thuận giữa chị H và ông M2, bà M là hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung của thoả thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên được xem là hợp pháp, qua đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Tại phiên tòa hôm nay đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày đến thời điểm hiện tại bị đơn ông M2, bà M chưa trả thêm khoản tiền gốc và lãi cho nguyên đơn như đã thỏa thuận trong 02 tờ cam kết. Việc ông M2, bà M không trả tiền vay cho chị H đã vi phạm thoả thuận, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của chị H, do đó việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả một lần số tiền 95.000.000 đồng là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Mặt khác, trong quá trình tố tụng ông M2, bà M xin trả dần số tiền trên đến khi hết nợ, tuy nhiên không được nguyên đơn chấp nhận nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét ý kiến của bị đơn.
Từ những nhận định trên, căn cứ vào Điều 463, khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị H, buộc ông M2, bà M có nghĩa vụ trả cho chị H số tiền gốc là 95.000.000 đồng.
* Về lãi suất: Nguyên đơn chị H yêu cầu bị đơn ông M2, bà M phải trả tiền lãi theo quy định pháp luật từ 14/5/2021 (dl) đến khi trả nợ xong. Trong vụ án này, nguyên đơn trình bày tại phiên tòa lãi suất cho vay theo thỏa thuận là 5%/năm, tuy nhiên trong quá trình tố tụng bị đơn không có mặt đầy đủ và tại phiên tòa bị đơn đều vắng mặt nên không có cơ sở xác định rõ lãi suất thỏa thuận giữa các bên. Mặt khác, tại 02 tờ cam kết trả nợ ngày 11/5/2022 (dl) và tờ cam kết trả nợ ngày 14/5/2022 (al) không xác định lãi suất thỏa thuận. Tòa án tiến hành triệu tập đương sự tham gia hòa giải lần 03 để bị đơn có mặt đầy đủ để thống nhất số tiền lãi phải trả, nhưng các bị đơn đều không tham gia, điều này cho thấy các đương sự có tranh chấp về lãi suất. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 468: “Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ” nên không có cơ sở áp dụng lãi suất 1,66%/tháng như đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày. Do đó, lãi suất trong trường hợp này được xác định như sau:
Lãi suất 10%/năm : 12 tháng = 0,83%/tháng
10%/năm : 365 ngày = 0,02739%/ngày
Từ ngày 14/5/2021 đến ngày xét xử 13/01/2023 là: 19 tháng 29 ngày.
Nợ gốc là 95.000.000 đồng x 19 tháng x 0,83% = 14.981.500 đồng
Nợ gốc là 95.000.000 đồng x 29 ngày x 0,02739% = 754.000 đồng
Tổng lãi là: 14.981.500 đồng + 754.000 đồng = 15.735.500 đồng.
Như vậy, bị đơn ông M2, bà M phải trả số tiền gốc là 95.000.000 đồng và lãi theo quy định pháp luật là 15.735.500 đồng. Tổng số tiền gốc và lãi ông M2, bà M phải trả cho nguyên đơn chị H là 110.735.500 đồng.
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên chị H được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Bị đơn ông M2, bà M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 110.735.500 đồng x 5% = 5.536.000 đồng.
Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 244, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Điều 463, khoản 1 Điều 466, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự;
Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Diễm H về việc yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Văn M2, bà Nguyễn Thị M trả cho chị số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Diễm H. Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn M2, bà Nguyễn Thị M phải liên đới trả cho chị Lê Diễm H số tiền vốn gốc là 95.000.000 đồng và lãi suất là 15.735.500 đồng. Tổng vốn gốc và lãi là 110.735.500 đồng (Một trăm mười triệu, bảy trăm ba mươi lăm ngàn, năm trăm đồng).
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn chị Lê Diễm H được nhận lại số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003837 ngày 13/10/2022 Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
Bị đơn ông Nguyễn Văn M2 và bà Nguyễn Thị M phải chịu 5.536.000 đồng (Năm triệu, năm trăm ba mươi sáu ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo:
Nguyên đơn chị Lê Diễm H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn ông Nguyễn Văn M2, bà Nguyễn Thị M được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh An Giang;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện Châu Thành;
- Chi cục THADS huyện Châu Thành;
- Các đương sự;
- Phòng KTNV & THA;
- Lưu HS, VP.
Ngô Thị Kim Quyên ................................................................................................................................. (29 ) Hướng dẫn sử dụng mẫu số 52-DS: Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự. Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Toà án khi xét xử sơ thẩm các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án sơ thẩm kèm theo: (1) Nếu là Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi rõ tên Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Toà án nhân dân huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội); nếu là Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi Toà án nhân dân tỉnh (thành phố) đó (ví dụ: Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam). (2) Ô thứ nhất ghi số bản án, ô thứ hai ghi năm ra bản án, ô thứ ba ghi ký hiệu loại bản án (ví dụ: Nếu là bản án giải quyết tranh chấp về dân sự năm 2017 có số 100 thì ghi: “Số:100/2017/DS-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình năm 2017 có số 108 thì ghi: “Số:108/2017/HNGĐ-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại năm 2017 có số 110 thì ghi: “Số:110/2017/KDTM-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về lao động năm 2017 có số 115 thì ghi: “Số:115/2017/LĐ-ST”). (3) Ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày. (4) Ghi quan hệ tranh chấp mà Tòa án giải quyết: Cần xác định tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết được quy định tại Điều, khoản nào của Bộ luật tố tụng dân sự, để ghi vào phần trích yếu của bản án (ví dụ: Tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết là tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân được quy định tại khoản 1 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự thì ghi: “tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân”). (5) Ghi như hướng dẫn tại điểm (1). (6) Nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà, bỏ dòng “Thẩm phán...”, đối với Hội thẩm nhân dân chỉ ghi họ tên của hai Hội thẩm nhân dân; nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân. Cần chú ý là không ghi chức vụ của Thẩm phán; chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân. (7) Ghi họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1). (8) Nếu có Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên toà thì ghi như hướng dẫn tại điểm (1) song đổi các chữ “Toà án nhân dân” thành “Viện kiểm sát nhân dân”. (9) Trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ “Trong các” (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi “Trong các ngày” (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi: “Từ ngày đến ngày” (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017). (10) Nếu xét xử kín thì thay cụm từ “công khai” bằng từ “kín”. (11) Ô thứ nhất ghi số thụ lý, ô thứ hai ghi năm thụ lý và ô thứ ba nếu là tranh chấp về dân sự thì ghi “DS”; nếu là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thì ghi “HNGĐ”; nếu là tranh chấp về kinh doanh, thương mại thì ghi “KDTM”; nếu là tranh chấp về lao động thì ghi “LĐ” (ví dụ: số 18/2017/TLST-HNGĐ). (12) Ghi như hướng dẫn tại điểm (4). (13) Nguyên đơn là cá nhân thì ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên). Nguyên đơn là cơ quan, tổ chức thì ghi tên cơ quan, tổ chức và địa chỉ của cơ quan, tổ chức đó. (14) Chỉ ghi khi có người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và ghi họ tên, địa chỉ cư trú; ghi rõ là người đại diện theo pháp luật hay là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn; nếu là người đại diện theo pháp luật thì cần ghi chú trong ngoặc đơn quan hệ giữa người đó với nguyên đơn; nếu là người đại diện theo uỷ quyền thì cần ghi chú trong ngoặc đơn: “văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...”. Ví dụ 1: Ông Nguyễn Văn A trú tại... là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn (Giám đốc Công ty TNHH Thắng Lợi). Ví dụ 2: Bà Lê Thị B trú tại... là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn (Văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...). (15) Chỉ ghi khi có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là Luật sư thì ghi là Luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào); nếu có nhiều nguyên đơn thì ghi cụ thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn nào. (16) và (19) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (13). (17) và (20) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (14). (18) và (21) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (15). (22) Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên). (23) Ghi họ tên, chức danh, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú). (24) Ghi họ tên, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú). (25) Trong phần này ghi rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, của cơ quan, tổ chức, cá nhân; yêu cầu phản tố, đề nghị của bị đơn; yêu cầu độc lập, đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; ý kiến của Viện kiểm sát; ghi ngắn gọn, đầy đủ các tài liệu, chứng cứ, tình tiết của vụ án; ghi rõ các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh, các tình tiết mà các bên đã thống nhất, không thống nhất; đối với các tình tiết của vụ án mà các bên không thống nhất thì phải ghi rõ lý lẽ, lập luận của từng bên đương sự.
(26) Ghi nhận định của Tòa án về những vấn đề cần phải giải quyết trong vụ án (về áp
dụng pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung). Tòa án phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích, đánh giá, nhận định đầy đủ, khách quan về chứng cứ và những tình tiết của vụ án; phân tích, viện dẫn những căn cứ pháp luật, án lệ (nếu có) để chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu, đề nghị của đương sự; yêu cầu, đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (nếu có); yêu cầu, đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát (nếu có); giải quyết các vấn đề khác có liên quan. Nếu vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật tố tụng dân sự thì tùy từng trường hợp mà Tòa án phân tích, lập luận về việc áp dụng tập quán, tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng.
Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ tự trong dấu [ ]. (27) Tùy từng trường hợp mà ghi rõ các căn cứ pháp luật để ra quyết định. (28) Ghi các quyết định của Tòa án về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo đối với bản án; trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì phải ghi rõ quyết định đó. Đối với trường hợp xét xử sơ thẩm lại vụ án mà bản án, quyết định đã bị hủy một phần hoặc toàn bộ theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm thì ghi vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành (nếu có) theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng bị hủy; trường hợp có quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự thì phải ghi rõ nội dung về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án. (29) Phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi rõ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát thì ghi như sau:
| Nơi nhận: Ghi những nơi mà Toà án cấp sơ thẩm phải giao hoặc gửi bản án theo quy định tại Điều 269 của Bộ luật tố tụng dân sự và những nơi cần lưu bản án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |