- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "guyên đơn: Ngân hàng TNHH một thành viên S Việt Nam- Bị đơn: Ông Nguyễn Việt H, sinh năm 1989"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TNHH một thành viên S Việt Nam đối với ông Nguyễn Việt H.
- Căn cứ chính? Điều 466 Bộ luật Dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 201 của…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:02/2023/DS-ST Ngày: 10/01/2023 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Viết Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng Ninh
Bà Nguyễn Thị Nga
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Đạt - Thư ký, Toà án nhân dân huyện K, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, thành phố Hà Nội, tham gia phiên toà: Bà Trần Thanh Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện K, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 82/2022/TLST-DS ngày 13/10/2022 về việc: “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2022/QĐST-DS ngày 05/12/2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 115/2022/QĐST-DS ngày 22/12/2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TNHH một thành viên S Việt Nam.
Địa chỉ trụ sở chính: Tòa nhà Empress, số 138-142 T, phường Đ, Quận 1,
Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Lỗ Đức T
Chức vụ: Cán bộ ngân hàng
Bị đơn: Ông Nguyễn Việt H, sinh năm 1989
Nơi ĐKHKTT: Thôn E, xã W, huyện K, Thành phố Hà Nội
(Ông T có mặt tại phiên tòa, ông H vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ghi ngày 20/5/2022 và các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn là Ngân hàng TNHH một thành viên S Việt Nam do người đại diện theo ủy quyền ông Lỗ Đức T trình bày:
Ông Nguyễn Việt H lập Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng cá nhân S kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng với Ngân hàng vào ngày 25/09/2018, hạn mức tín dụng ban đầu cấp cho ông H là 150.000.000 đồng (Bằng chữ: Một trăm năm mươi triệu đồng). Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng đứng tên ông Nguyễn Việt H, với hạn mức 150.000.000 đồng , lãi suất sẽ được tính tại thời điểm sử dụng thẻ.
Quá trình sử dụng thẻ, Ông H đã chi tiêu và thanh toán trong thời gian đầu sử dụng và bắt đầu để quá hạn từ ngày 10/02/2019. Tính đến ngày 04/10/2022, tổng dư nợ khoản chi tiêu thẻ tín dụng của ông H tại Ngân hàng là: 183,999,269 VNĐ (bằng chữ: Một trăm tám mươi ba triệu, chín trăm chín mươi chín ngàn, hai trăm sáu mươi chín đồng), trong đó:
- Nợ gốc: 136.587.129 VND
- Nợ lãi: 43.141.744 VND
- Phí trả chậm: 4.270.396 VND
“ Trong đó: lãi được tính cho hạng thẻ Hi-Point Platinum của ông H là 28,8%/năm, Phí chậm thanh toán là: 4%( Tối thiểu 250,000 đồng, tối đa 999,000 đồng) số tiền chậm trả. Theo qui định chung của Ngân hàng S được thể hiện trên biểu phí chung và website: S.com.vn”.
Sau khi phát sinh nợ quá hạn, Ngân hàng đã đôn đốc, tạo điều kiện cho Ông Nguyễn Việt H trả nợ nhưng ông H đã nhiều lần vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Việc làm trên của ông H đã gây ảnh hưởng lớn đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng. Kể từ ngày 17/12/2019 đến nay Ngân hàng đã tạm dừng tính lãi, phí phát sinh đối với ông H.
Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng TNHH một thành viên S Việt Nam kính đề nghị Quý Tòa giải quyết những yêu cầu sau:
1. Buộc ông Nguyễn Việt H phải trả Ngân hàng TNHH MTV S Việt Nam số tiền tạm tính đến ngày 04/10/2022 là: 183.999.269 đồng (bằng chữ: Một trăm tám mươi ba triệu, chín trăm chín mươi chín ngàn, hai trăm sáu mươi chín đồng). Đề nghị Tòa án không tiếp tục tính lãi, phí theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng kể từ ngày 04/10/2022 cho đến ngày ông H thanh toán toàn bộ khoản vay.
2. Trường hợp ông H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, đề nghị Tòa án tuyên Ngân hàng TNHH MTV S Việt Nam được yêu cầu cơ quan thi hành án buộc ông Nguyễn Việt H thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.
Quá trình giải quyết vụ án về địa chỉ nơi cư trú của ông H: Ngân hàng chỉ biết ông H có ĐKHKTT và nơi cư trú cuối cùng của ông H là Thôn E, xã W, huyện K, Thành phố Hà Nội. Ngoài ra không biết địa chỉ nơi ở nào khác của ông H. Hiện nay ngân hàng không liên lạc được với ông H, không biết anh H đi đâu, làm gì và khi nào trở về. Tòa án đã yêu cầu Ngân hàng đăng tin tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng để thông báo cho ông H biết tham gia tố tụng về việc Ngân hàng khởi kiện ông tại Tòa án nhân dân huyện K nhưng ông H vẫn vắng mặt. Do vậy Ngân hàng TNHH một thành viên S Việt Nam đề nghị Tòa án xét xử vụ án theo quy định của pháp luật đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho Ngân Hàng.
* Bị đơn – ông Nguyễn Việt H đã được Tòa án triệu tập và tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng ông H không đến Tòa án giải quyết vụ án nên Tòa án không có lời khai của anh H tại Tòa án cũng như tại phiên tòa hôm nay.
* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện K phát biểu quan điểm về việc chấp hành pháp luật tố tụng dân sự và quan điểm giải quyết vụ án như sau:
- Toà án nhân dân huyện K đã thụ lý và giải quyết vụ án đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
- Thẩm phán lập hồ sơ, xác minh, thu thập chứng cứ, tiến hành giao các văn bản tố tụng và tiến hành trình tự, thủ tục tại phiên toà đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng tại phiên toà đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành nghiêm túc, không đến Tòa án giải quyết vụ án và vắng mặt tại phiên tòa, vi phạm các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn về nợ gốc, buộc ông Nguyễn Việt H phải trả cho Ngân hàng TNHH một thành viên S Việt Nam số tiền nợ gốc là 136.587.129 đồng.
Về lãi suất: Do Ngân hàng TNHH một thành viên S Việt Nam không cung cấp bảng tính lãi cho Tòa án nên giành cho Ngân hàng quyền khởi kiện bằng một vụ án khác về lãi suất.
Ghi nhận sự tự nguyện của Ngân hàng TNHH một thành viên S Việt Nam về việc không tiếp tục tính lãi, phí theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng kể từ ngày 04/10/2022 cho đến khi ông H thanh toán hết số tiền nợ cho Ngân hàng TNHH một thành viên S Việt Nam.
* Về án phí: Vụ án thụ lý ngày 13 tháng 10 năm 2022, nên về án phí cần áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
Về áp dụng pháp luật tố tụng dân sự:
. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
- Về quan hệ pháp luật: Khi thụ lý vụ án, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là: "Tranh chấp Hợp đồng tín dụng". Quá trình giải quyết vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa hôm nay thể hiện ông Nguyễn Việt H đã được cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 150.000.000 đồng với mục đích vay tiêu dùng cá nhân. Đây là tranh chấp về dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ án này là tranh chấp về dân sự, về việc: “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
- Về thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng TNHH một thành viên S Việt Nam khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với bị đơn là ông Nguyễn Việt H– Nơi cư trú cuối cùng: Thôn E, xã W, huyện K, Thành phố Hà Nội nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hà Nội là phù hợp với quy định của pháp luật.
. Về sự vắng mặt của Bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ Bị đơn đến Tòa án để giải quyết vụ án nhiều lần đồng thời Tòa án đã yêu cầu Ngân hàng đăng tin tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng để thông báo cho ông H biết tham gia tố tụng về việc Ngân hàng khởi kiện ông tại Tòa án nhân dân huyện K nhưng ông H vẫn vắng mặt, tại phiên tòa hôm nay, Bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Như vậy, Bị đơn đã từ bỏ quyền và không chấp hành nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt Bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự là có căn cứ đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn:
. Việc ký kết hợp đồng: Ngày 25/9/2018 ông Nguyễn Việt H - Nơi cư trú cuối cùng: Thôn E, xã W, huyện K, Thành phố Hà Nội đã ký kết Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 25/9/2018 của ông Nguyễn Việt H và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TNHH một thành viên S Việt Nam - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng) với Ngân hàng TNHH một thành viên S Việt Nam có nội dung:
Hạn mức tiền vay: 150.000.000 đồng.
Mục đích vay: Vay tiêu dùng cá nhân.
Lãi suất trong hạn và Lãi suất quá hạn theo Hợp đồng được tính tại thời điểm sử dụng thẻ tín dụng.
Ông Nguyễn Việt H đã hiểu rõ, đồng ý và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung xác nhận trong Văn bản khi ông H sử dụng dịch vụ tại Ngân hàng TNHH một thành viên S Việt Nam mà ông H đã ký ngày 25/9/2018.
Trên cơ sở đó Ngân hàng TNHH một thành viên S Việt Nam đã ký xác nhận về việc đồng ý phát hành thẻ tín dụng cho ông Nguyễn Việt H và đến ngày 17/10/2018 ông Nguyễn Việt H được cấp thẻ.
. Xét tính hợp pháp của hợp đồng: Người tham gia ký kết hợp đồng có năng lực hành vi dân sự, hoàn toàn tự nguyện, mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội phù hợp với quy định tại Điều 122 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 17 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng (Ban hành theo Quyết định số: 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam).
Về hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 119 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Về nội dung của hợp đồng: Các điều khoản của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên phát sinh hiệu lực đối với các bên về quyền, nghĩa vụ và các bên phải có trách nhiệm thực hiện các thỏa T đã cam kết trong hợp đồng.
Về việc thực hiện hợp đồng của các bên: Hội đồng xét xử thấy rằng, sau khi các bên ký kết hợp đồng tín dụng, ông H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 148.353.935 đồng. Ông H chưa thanh toán cho Ngân hàng số tiền148.353.935 đồng. Hai bên không có thắc mắc gì về các nội dung và điều khoản của Hợp đồng. Ông H đã được cấp đủ hạn mức và nhận đủ số tiền vay nhưng ông H đã không thanh toán đầy đủ nghĩa vụ trả nợ đúng hạn cho Ngân hàng TNHH một thành viên S Việt Nam. Vì vậy, Ngân hàng TNHH một thành viên S Việt Nam khởi kiện yêu cầu buộc ông H phải trả nợ gốc và lãi phát sinh là có căn cứ và đúng pháp luật nên cần chấp nhận.
Nguyên đơn đã giao nộp căn cứ chứng minh là bảng kê chi tiết nợ gốc, lãi theo lịch trình trả nợ tại hợp đồng tín dụng đã ký kết của Bị đơn.
Xét các chứng cứ mà Nguyên đơn cung cấp phù hợp với lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn nên căn cứ khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 6 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, là có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc buộc Bị đơn phải thanh toán cho Nguyên đơn số tiền nợ gốc, lãi và phí trả chậm là: 183.999.269 đồng (bằng chữ: Một trăm tám mươi ba triệu, chín trăm chín mươi chín ngàn, hai trăm sáu mươi chín đồng), trong đó:
- Nợ gốc: 136.587.129 đồng
- Nợ lãi: 43.141.744 đồng
- Phí trả chậm: 4.270.396 đồng
Riêng đối với khoản phí trả chậm: 4.270.396 đồng lẽ ra không được chấp nhận, tuy nhiên Ngân hàng TNHH một thành viên S Việt Nam đã tạm dừng tính lãi và phí đối với ông H từ ngày 17/12/2019 nên có căn cứ để chấp nhận khoản phí trả chậm này.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận khoản nợ lãi và phí trả chậm đồng thời giành quyền khởi kiện cho Ngân hàng TNHH một thành viên S Việt Nam bằng một vụ án khác là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không có căn cứ chấp nhận.
Từ những phân tích và đánh giá ở trên, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, về việc buộc Bị đơn là ông Nguyễn Việt H phải có nghĩa vụ trả số tiền còn nợ cho Nguyên đơn theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 25/9/2018 tổng số tiền còn nợ (tính đến hết ngày 04 /10 /2022) là: 183.999.269 đồng (Bằng chữ: Một trăm tám mươi ba triệu, chín trăm chín mươi chín ngàn, hai trăm sáu mươi chín đồng), trong đó:
- Nợ gốc: 136.587.129 đồng
- Nợ lãi: 43.141.744 đồng
- Phí trả chậm: 4.270.396 đồng
. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn được chấp nhận nên Bị đơn ông Nguyễn Việt H phải chịu toàn bộ án phí Dân sự sơ thẩm. Cụ thể ông Nguyễn Việt H phải chịu án phí sơ thẩm là: 9.200.000 đồng.
. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ các Điều 116, 117; Điều 119; Điều 463; Điều 466; Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Nghị quyết số: 01/2021/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TNHH một thành viên S Việt Nam đối với ông Nguyễn Việt H.
2. Buộc ông Nguyễn Việt H phải trả cho Ngân hàng TNHH một thành viên S Việt Nam (Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 25/9/2018 của ông Nguyễn Việt H và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TNHH một thành viên S Việt Nam) tổng số tiền còn nợ (tính đến hết ngày 04 /10 /2022) là: 183.999.269 đồng (Bằng chữ: Một trăm tám mươi ba triệu, chín trăm chín mươi chín ngàn, hai trăm sáu mươi chín đồng), trong đó:
- Nợ gốc: 136.587.129 đồng
- Nợ lãi: 43.141.744 đồng
- Phí trả chậm: 4.270.396 đồng
3. Ghi nhận sự tự nguyện của Ngân hàng TNHH một thành viên S Việt Nam về việc không tiếp tục tính lãi, phí theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng kể từ ngày 04/10/2022 cho đến khi ông H thanh toán hết số tiền nợ cho Ngân hàng TNHH một thành viên S Việt Nam.
4. Về án phí:
Buộc ông Nguyễn Việt H phải chịu án phí sơ thẩm là: 9.200.000 đồng.
Hoàn trả Ngân hàng TNHH một thành viên S Việt Nam số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí lệ phí tòa án thu số 123945 ngày 12/10/2022 là 4.600.000 đồng.
5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
6. Quyền yêu cầu thi hành án dân sự:
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả T thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TANDTP.Hà Nội; - VKSND huyện K; - Chi cục THADS huyện K; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP/TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Viết Tuấn |