vanban.org

Bản án 02/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Có áp dụng án lệ Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S Việt Nam.

Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 6600000706051311 ngày 20/11/2015 giữa Phòng giao dịch Ngân hàng S huyện Đ và hộ ông Phạm Văn … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng Ngân hàng và Tr"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S Việt Nam.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK GLONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐẮK NÔNG
Bản án số: 02/2023/DS-ST
Ngày 31-3-2023
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: ông Vũ Văn Tuân

Các Hội thẩm nhân dân: ông K’Wăn và ông Giàng Seo Chúng.

- Thư ký phiên tòa: bà Kiều Thị Thành – Thư ký TAND huyện Đắk Glong.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong tham gia phiên toà:

bà Cao Thị Thu Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý 85/2022/TLST-DS ngày 06 tháng 12 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2022/QĐXXST-DS, ngày 27 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2023/QĐST-DS ngày 14 tháng 3 năm 2023 giữa:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng S Việt Nam; địa chỉ: Tòa nhà C, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông K– Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng S huyện Đ; địa chỉ: Bon R’dạ, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền số 7300/QĐ-NHCS ngày 19/9/2019) – có mặt.

2. Bị đơn: Ông Phạm Văn Tr, sinh năm 1973; địa chỉ: Bon K, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt lần 2 không có lý do.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hà Thị T, sinh năm 1979; địa chỉ: Bon K, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – vắng mặt lần 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Hộ ông Phạm Văn Tr được Phòng giao dịch Ngân hàng S huyện Đ (gọi tắt là Ngân hàng) phê duyệt cho vay 25.000.000 đồng theo Hợp đồng vay vốn số: 6600000706051311, ngày 20/11/2015 theo chương trình cho vay hộ gia đình sản xuất kinh doanh vùng khó khăn, thời hạn cho vay: 48 tháng, lãi suất cho vay 0,75%/tháng, lãi suất quá hạn là 130% so với lãi suất cho vay; mục đích vay là để thực hiện phương án cải tạo và chăm sóc cà phê. Trả nợ gốc định kỳ 12 tháng/kỳ số tiền 6.200.000 đồng; kỳ trả ngày trả nợ gốc đầu tiên là 20/11/2016; kỳ trả nợ cuối cùng là 20/11/2019, Ngân hàng đã cho gia hạn đến ngày 20/10/2021. Trong thời gian vay, ông Tr đã thanh toán số tiền lãi 10.454.000 đồng. Tổng số tiền còn nợ tính đến 22/11/2022 là 31.010.000 đồng, trong đó tiền gốc là 25.000.000 đồng, tiền lãi là 6.010.000 đồng; quá hạn được gia hạn nhưng ông Tr không trả nợ nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu hộ ông Tr phải trả tiền gốc 25.000.000 đồng và lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với ông Tr, bà T nhưng vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án là đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; đại diện hợp pháp của nguyên đơn chấp hành đúng, đầy đủ quy định của pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật tố tụng dân sự, vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án. Về giải quyết yêu cầu của đương sự: Hợp đồng tín dụng được ký kết giữa hai bên thể hiện hộ ông Tr vay Ngân hàng 25.000.000 đồng, đã trả được một phần tiền lãi nhưng vi phạm nghĩa vụ thanh toán gốc và lãi khi đến hạn của mỗi kỳ nên đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Tr, bà T chịu trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng 25.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu hộ ông Tr trả tiền vay theo thỏa thuận cấp tín dụng. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp là "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"; ông Tr trú tại Bon K, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (địa chỉ theo hợp đồng tín dụng) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về quyền khởi kiện: Theo Hợp đồng Tín dụng số: 6600000706051311 ngày 20/11/2015, Ngân hàng S huyện Đ cho hộ ông Tr vay là 25.000.000 đồng, hạn trả nợ cuối cùng là 20/11/2019, Ngân hàng đã cho gia hạn 23 tháng đến ngày 20/10/2021; ông Tr, bà T vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc định kỳ và lãi khi đến hạn nên Ngân hàng có quyền khởi kiện yêu cầu ông Tr, bà T trả toàn bộ số tiền còn nợ.

[3]. Trong quá trình giải quyết vụ án ông Tr, bà T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đương sự.

. Hợp đồng Tín dụng số: 6600000706051311, ngày 20/11/2015 giữa Phòng giao dịch Ngân hàng S huyện Đ và hộ ông Phạm Văn Tr là hoàn toàn trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội đúng theo quy định tại các điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Điều 117, Điều 463, khoản 1 Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015; hộ ông Tr đã nhận 25.000.000 đồng cho vay (tiền gốc) và đã trả được 10.454.549 đồng; khoản vay đã quá hạn trả nợ gốc và lãi theo định kỳ; tính đến ngày 31/3/2023 hộ ông Tr còn nợ 25.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi phát sinh là 7.000.000 đồng. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với 25.000.000 đồng tiền gốc và 7.000.000 đồng tiền lãi là có căn cứ nên chấp nhận. Bà T là người ký tên “người thừa kế” trong sổ vay vốn, những khoản vay này nhằm mục đích phát triển kinh tế, đáp ứng nhu cầu thiết yếu của hộ gia đình; căn cứ theo quy định tại khoản 2, Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình vợ chồng ông Tr phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng số tiền gốc và lãi nêu trên. Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm, ông Tr và bà T tiếp tục phải chịu lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết.

. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên ông Tr, bà T phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 1.600.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 2 Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 463, khoản 1 Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015; khoản 2, Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình; Án lệ số: 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định số: 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S Việt Nam. Buộc ông Phạm Văn Tr và bà Hà Thị T phải chịu trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng 25.000.000 (hai lăm triệu) đồng tiền gốc và 7.000.000 (bảy triệu) đồng tiền lãi, tổng cộng là 32.000.000 (ba mươi hai triệu) đồng.

Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 6600000706051311 ngày 20/11/2015 giữa Phòng giao dịch Ngân hàng S huyện Đ và hộ ông Phạm Văn Tr cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

3. Về án phí: Buộc ông Phạm Văn Tr và bà Hà Thị T phải chịu 1.600.000 (một triệu sáu trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ