vanban.org

Bản án 02/2023/DS-ST — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc vợ chồng ông Trần Hải Đ, bà Nguyễn Thị Tuyết H1 có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho ông Trần Đại H số tiền còn nợ là 209.678.000 đồng (Hai trăm lẻ chín triệu, sáu trăm bảy mươi tám nghìn đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ông Trần Đại H cho đến khi thi hành án xong mà vợ chồng ông Đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Tranh chấp Hợp đồng dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN ĐỀ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2023/DS-ST
Ngày: 11 – 01 – 2023.
“V/v tranh chấp: Hợp đồng mua
bán tài sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Trần Huy Tùng.

2/ Ông Trần Hoàng Việt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Lý Út Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 160/2022/TLST-DS ngày 09 tháng 11 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2022/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chủ hộ kinh doanh Đại lý Trường H - Ông Trần Đại H, sinh năm 1973.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Minh T, sinh năm 1995 (Theo văn bản ủy quyền ngày 13/5/2022) (Có mặt).

Cùng địa chỉ: Số X, khóm T, phường K, thị xã V, tỉnh S.

- Bị đơn:

1/ Ông Trần Hải Đ, sinh năm 1987 (Vắng mặt).

2/ Bà Nguyễn Thị Tuyết H1, sinh năm 1990 (Vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện T, tỉnh S.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết án cũng như tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn bà Nguyễn Minh T trình bày:

Trước đây năm 2017, bên ông Trần Đại H có thực hiện mua bán thức ăn và thuốc thủy sản với ông Trần Hải Đ và bà Nguyễn Thị Tuyết H1, do tin tưởng vì có làm ăn cùng cha của ông Đ là ông Trần Văn Hổ nên ông H giao kết hợp đồng thông qua lời nói mà không lập thành văn văn bản, sau đó để củng cố hồ sơ ông H có lập hợp đồng mua bán ngày 02/04/2019. Bên cạnh đó ông H giao dịch thông qua sổ giao nhận hàng mang tên “Chú Hổ 2” và sau này là sổ “Anh Đ”.

Theo thỏa thuận, bắt đầu từ 16/03/2017 bên ông H bán thức ăn và thuốc thủy sản cho ông Đ, bà H1. Hàng hóa được nhân viên giao hàng chở tận nơi hay ông Đ, bà H1 hoặc người nhà đến lấy hàng tại kho của ông H. Ông Đ, bà H1 tiến hành kiểm tra và ký bản đối chiếu xác nhận công nợ khi ông H yêu cầu. Cuối vụ thu hoạch tôm, ông Đ, bà H1 phải thanh toán hết tiền hàng. Trường hợp xét thấy công nợ cao, ông Đ, bà H1 vẫn không thanh toán tiền hàng, ông H có quyền cắt hàng và đề nghị thanh toán hết số tiền hàng còn nợ. Thời điểm cắt hàng được xem là thời điểm chấm dứt hợp đồng giao dịch.

Trong quá trình thực hiện giao dịch, ông H đã cung cấp hàng hóa đúng theo yêu cầu đặt hàng của ông Đ, bà H1. Sau khi nhận hàng ông Đ, bà H1 không hề phàn nàn hay có khiếu nại gì về số lượng, chất lượng, chủng loại hàng hóa mà bên ông H đã giao. Mặc dù ông H thực hiện đúng thỏa thuận hợp đồng, nhưng ông Đ, bà H1 đã không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán, đến cuối vụ tôm ông Đ, bà H1 không thanh toán hết tiền hàng cho ông H.

Đến khi công nợ đã lên đến 209.678.000 đồng (Hai trăm lẻ chín triệu, sáu trăm bảy mươi tám nghìn đồng) thì phía ông Đ, bà H1 chỉ ký các bảng đối chiếu công nợ ngày 26/10/2019 khi ông H yêu cầu và hứa hẹn nhưng không thanh toán thêm. Mặc dù ông H đã nhiều lần cử nhân viên gọi điện và đến nhà yêu cầu ông Đ, bà H1 trả tiền hàng còn nợ nhưng đến nay ông Đ, bà H1 vẫn cố tình không thanh toán. Hành vi cố tình không trả nợ của ông Đ, bà H1 đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông H.

Tại phiên tòa hôm nay bà Nguyễn Minh T đại diện cho nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc vợ chồng ông Trần Hải Đ, bà Nguyễn Thị Tuyết H1 có trách nhiệm liên đới trả cho ông Trần Đại H số tiền là 209.678.000 đồng (Hai trăm lẻ chín triệu sáu trăm bảy mươi tám nghìn đồng). Không yêu cầu tính lãi (Rút lại một phần về yêu cầu tính lãi chậm trả so với đơn khởi kiện ban đầu).

Bị đơn, ông Trần Hải Đ, bà Nguyễn Thị Tuyết H1 không có lời trình bày do vắng mặt.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã ban hành thông báo thụ lý số 160/TB-TLVA ngày 09 tháng 11 năm 2022, tống đạt hợp lệ cho bị đơn vợ chồng ông Trần Hải Đ, bà Nguyễn Thị Tuyết H1 nhưng các bị đơn không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ hai lần đối với các bị đơn để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng các bị đơn đều vắng mặt không có lý do. Tòa án đã lập biên bản về việc vắng mặt của các bị đơn, không tiến hành hòa giải được và các bị đơn cũng không có lời khai trong hồ sơ vụ án. Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa nêu quan điểm:

Về việc tuân thủ pháp luật: Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định chính xác quan hệ pháp luật tranh chấp; thu thập chứng cứ đầy đủ, đúng pháp luật; Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và qua lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa đã có đầy đủ cơ sở để khẳng định việc nguyên đơn yêu cầu các bị đơn thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc 209.678.000đ (Hai trăm lẻ chín triệu sáu trăm bảy mươi tám nghìn đồng), không yêu cầu tính lãi là có căn cứ pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

- Nguyên đơn ông Trần Đại H khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông Trần Hải Đ, bà Nguyễn Thị Tuyết H1 có nghĩa vụ thanh toán số tiền còn nợ do mua hàng. Tòa án xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp Hợp đồng mua bán tài sản”.

- Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn vắng mặt (có người đại diện), bị đơn vợ chồng ông Đ, bà H1 mặc dù đã được tống đạt giấy triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ lý do. Do đó căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 2 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

Về nội dung vụ án:

- Xét về hình thức và nội dung của hợp đồng mua bán tài sản giữa ông Trần Đại H với vợ chồng ông Trần Hải Đ, bà Nguyễn Thị Tuyết H1 là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 430 Bộ luật dân sự.

- Xét về quá trình thực hiện hợp đồng: Quá trình mua bán Hộ kinh doanh đại lý Trường Hải do ông Trần Đại H làm chủ có lập sổ theo dõi giao nhận hàng và vợ chồng ông Đ, bà H1 có ký tên vào sổ theo dõi giao nhận hàng. Tính đến ngày 27/10/2019, vợ chồng ông Đ, bà H1 thừa nhận còn nợ ông H với số tiền là 209.678.000 đồng (Hai trăm lẻ chín triệu sáu trăm bảy mươi tám nghìn đồng).

Qua những lời trình bày của đương sự cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Vợ chồng ông Trần Hải Đ, bà Nguyễn Thị Tuyết H1 có mua các loại thức ăn và thuốc thủy sản của ông Trần Đại H. Quá trình mua bán, sau khi đối chiếu công nợ thì vợ chồng ông Đ, bà H1 còn nợ 209.678.000 đồng (Hai trăm lẻ chín triệu sáu trăm bảy mươi tám nghìn đồng) kể từ ngày 27/10/2019. Như vậy vợ chồng ông Đ, bà H1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán được quy định tại Điều 440 Bộ luật dân sự. Do đó ông H yêu cầu vợ chồng ông Đ, bà H1 phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền còn nợ là có căn cứ.

Về lãi suất chậm trả: Do đại diện nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Kiểm sát viên tại phiên tòa nêu quan điểm về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 430, Điều 440, Điều 357; Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

2. Buộc vợ chồng ông Trần Hải Đ, bà Nguyễn Thị Tuyết H1 có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho ông Trần Đại H số tiền còn nợ là 209.678.000 đồng (Hai trăm lẻ chín triệu, sáu trăm bảy mươi tám nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ông Trần Đại H cho đến khi thi hành án xong mà vợ chồng ông Đ, bà H1 chậm trả tiền thì còn phải liên đới trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Vợ chồng ông ông Trần Hải Đ, bà Nguyễn Thị Tuyết H1 phải liên đới nộp 10.483.900đ (Mười triệu, bốn trăm tám mươi ba nghìn, chín trăm đồng) tiền án phí.

- Ông Trần Đại H không phải chịu án phí. Ông H được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 6.498.550đ (Sáu triệu, bốn trăm chín mươi tám nghìn, năm trăm năm mươi đồng) theo biên lai thu số 0004140 ngày 27/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh S.

Các đương sự có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh S xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ