vanban.org

Bản án 02/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 19/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Trung H phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điểm h, g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt: bị cáo Nguyễn Trung H 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày 23/9/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Nguyễn Trung H phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm c khoản 2 Điều 173 BLHS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Trung H phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO BẰNG
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2022/HSST
Ngày: 19/01/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hanh

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lã Văn Luật

2. Bà Nguyễn Bích Phương

Thư ký phiên tòa: Bà Mã Thị Hoàng Yến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Mã Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 01 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 179/2021/HSST ngày 30 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Trung H; Tên gọi khác: không có; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 25/8/1998; Nơi sinh: thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ 18, phường S, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không nghề; Trình độ học vấn: 06/12 phổ thông; Con ông: Nguyễn Trung C - sinh năm 1959 (đã chết); Con bà: Mạc Thị H - sinh năm 1970 (đã chết); Anh, chị, em ruột: gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ, con: chưa có.

Tiền sự: không;

Tiền án:

Ngày 23/11/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng xử phạt 06 tháng tù về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Ngày 26/12/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng xử phạt 09 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản. Tổng hợp với bản án số 27 ngày 23/11/2016 của Tòa án nhân dân huyện Phục Hòa. Bị cáo phải chấp hành hình phạt là 15 tháng tù.

Ngày 02/3/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn xử phạt 15 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt 15 tháng tù bản án số 85/HSST ngày 26/12/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng. Bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 30 tháng tù.

Ngày 12/4/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Giang xử phạt 10 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Tổng hợp với hình phạt 30 tháng tù của bản án số 04/HSST ngày 02/3/2017, buộc bị cáo phải chịu 40 tháng tù.

Nhân thân: Năm 2013, bị Uỷ ban nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng số 2 tại Yên Mô – Ninh Bình về hành vi trộm cắp tài sản; Ngày 12/02/2019 bị Công an huyện Thạch An xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng từ ngày 23/9/2021 đến nay; Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1. Bùi Văn T - sinh năm 1988

Địa chỉ: SN 41, tổ 10, phường S, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.

2. Nguyễn Thị H - sinh năm 1970

Địa chỉ: Tổ 14, phường S, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.

3. Nguyễn Bá X - sinh năm 1966

Địa chỉ: Tổ 11, phường S, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.

4. Hoàng Trọng S - sinh năm 1954

Địa chỉ: Tổ 10, phường H, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.

5. Nguyễn Thị H - sinh năm 1956

Địa chỉ: Tổ 14, phường S, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.

6. Hà Tiến D - sinh năm 1976

Địa chỉ: Tổ 01, phường H, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Lương Thị O - sinh năm 1991

Địa chỉ: Tổ 02, phường Đ, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.

2. Lương Văn T - sinh năm 1997

Tạm trú: Xóm Nam Phong 1, xã H, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.

3. Vũ M - sinh năm 1984

Địa chỉ: Tổ 11, phường H, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.

4. Đặng Đình L - sinh năm 1982

Địa chỉ: Tổ 10, phường S, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.

5. Nông Mai P - sinh năm 1987

Địa chỉ: Tổ 11, phường H, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.

Người làm chứng:

1. Hoàng Quốc H - sinh năm 2002

Địa chỉ: Tổ 11, phường H, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt.

2. Đàm Thùy L - sinh năm 1993

Địa chỉ: Xóm Nà Luông, xã V, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ ngày 27 tháng 8 đến ngày 23 tháng 9 năm 2021, Nguyễn Trung H (Sinh năm 1998, trú tại tổ 18, phường S, thành phố Cao Bằng) đã 04 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại khu vực thành phố Cao Bằng, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng 03 giờ sáng ngày 27/8/2021 H một mình đi bộ quanh thành phố Cao Bằng với mục đích tìm tài sản sơ hở trộm cắp tài sản. Khi đến khu vực Nhà văn hóa thuộc tổ 10, phường S, thành phố Cao Bằng H thấy 03 chiếc xe mô tô dựng trước cửa phòng trọ, quan sát không thấy người trông coi nên H tiến lại gần vị trí chiếc xe nhãn hiệu HONDA WAVE màu xanh, biển kiểm soát 88S3-5762 của Bùi Văn T tạm trú tại tổ 10, phường S, thành phố Cao Bằng. Thấy xe không khóa cổ nên H đã dắt chiếc xe đem đến cất giấu ở gần nhà của Hoàng Quốc H (sinh năm: 2002, trú tại tổ 11, phường S, thành phố Cao Bằng), sau đó vào nhà H ngủ. Khoảng 14 giờ ngày 27/8/2021 thông qua mạng xã hội facebook H đã hỏi Lương Thị O (sinh năm: 1991 tạm trú tại tổ 02, phường Đ, thành phố Cao Bằng) – làm nghề kinh doanh thu mua phế liệu để bán chiếc xe mô tô. Đến khoảng hơn 18 giờ cùng ngày, O cùng với Lương Văn T (sinh năm: 1997; tạm trú tại xóm Nam Phong 1, xã H, thành phố Cao Bằng) đến nhà của Hoàng Quốc H gặp H để trao đổi thống nhất và đồng ý mua chiếc xe mô tô với giá 750.000đ (bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Vật chứng thu giữ: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu xanh biển kiểm soát 88S3 - 5762, đã qua sử dụng.

Ngày 30 tháng 8 năm 2021, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng đã ra yêu cầu định giá tài sản số 215 yêu cầu xác định giá trị tài sản mà H đã trộm cắp được. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 57/KL-TCKH ngày 07 tháng 9 năm 2021của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cao Bằng kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, biển kiểm soát 88S3 - 5762, giá trị tài sản còn lại là 2.146.800đ (hai triệu một trăm bốn sáu nghìn tám trăm đồng).

Lần thứ hai: Khoảng 23 giờ ngày 01/9/2021 Nguyễn Trung H và Hoàng Quốc H đi bộ ở khu vực vườn hoa trung tâm thành phố Cao Bằng. Khi đi đến trước Cửa hàng bán quần áo của Nguyễn Thị H (sinh năm: 1970 trú tại tổ 14, phường S, thành phố Cao Bằng) tại chợ Sông Bằng thuộc tổ 12, phường H, thành phố Cao Bằng, H bảo H đợi ở ngoài còn H đi vào lấy trộm đồ ăn. H trèo vào cửa hàng lấy được 01 (một) túi ni lông bên trong có 01 (một) chai nước mắm Nam Ngư; 02 (hai) chai giấm hoa quả; 01 (một) lọ mì chính Vedan; 01 (một) gói hạt nêm Aji-ngon (tất cả đều đã qua sử dụng) quay xuống đưa cho H. Sau đó H một mình đi đến quán phở bò của ông Nguyễn Bá X (sinh năm: 1966 trú tại tổ 11, phường S, thành phố Cao Bằng) cạnh Cửa hàng bán quần áo của Nguyễn Thị H, H đột nhập qua cửa sổ vào bên trong quán lấy được 12 (mười hai) kilogam thịt bò để trong tủ lạnh; 02 lon nước cocacola; 08 lon nước tăng lực bò húc; 08 (tám) gói mì ăn liền Mộc Việt; 01 (một) gói chè khô; 01 (một) gói thuốc lào; 01 (một) túi quẩy rán; 01 (một) chiếc đèn pin. Sau đó H đi ra chỗ H đang ngồi đợi nhưng không thấy H nên H đem toàn bộ tài sản trộm cắp được đến nhà H thì thấy H đang ở nhà. Số thực phẩm này H và H đã sử dụng hết. Chiếc đèn pin sau đó H đã đưa cho một người đàn ông tên C ở tỉnh Thanh Hóa sống lang thang tại thành phố Cao Bằng nên không thu được tang vật.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng đã ra yêu cầu định giá tài sản số 222 ngày 14 tháng 9 năm 2021, yêu cầu xác định giá trị tài sản H đã trộm cắp được. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 60/KL-TCKH ngày 22 tháng 9 năm 2021của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cao Bằng kết luận: 12 (mười hai) kilogam thịt giá trị 3.000.000đ; 02 lon nước cocacola loại 320ml giá trị 21.200đ; 08 lon nước tăng lực bò húc loại 250ml giá trị 79.200đ; 08 (tám) gói mì ăn liền Mộc Việt giá trị 32.000đ; Quẩy rán và chè khô không có cơ sở để định giá do không xác định được trọng lượng quẩy và loại chè gì, nơi sản xuất ở đâu; 01 (một) gói thuốc lào có giá trị 22.500đ; 01 (một) chiếc đèn pin giá trị 80.000đ; 01 (một) chai nước mắm Nam Ngư giá trị còn lại 20.900đ; 01 (hai) chai giấm hoa quả giá trị còn lại 14.500đ; 01 (một) lọ mì chính Vedan giá trị còn lại 14.500đ; 01 (một) gói hạt nêm Aji-ngon giá trị còn lại 18.200đ. Tổng giá trị tài sản là 3.303.000đ (ba triệu ba trăm linh ba nghìn đồng).

Lần thứ ba: Khoảng 04 giờ ngày 19/9/2021 Nguyễn Trung H một mình đi đến khu vực đằng sau Nhà khách Điện Lực thuộc tổ 10, phường H, thành phố Cao Bằng, thấy có 01 ngôi nhà đang xây dựng chưa có cửa, H đi vào với mục đích lấy trộm sắt. Khi lên tầng 3 của ngôi nhà đang xây, H nhìn sang phía bên cạnh thấy tầng 3 của nhà ông Hoàng Trọng S (sinh năm: 1954, trú tại tổ 10, phường H, thành phố Cao Bằng) chỉ khép hờ cánh cửa nên H trèo qua mái một ngôi nhà 3 tầng (mái bằng) để vào nhà ông S. H mở cửa đi vào trong nhà rồi đi xuống cầu thang tầng hai, thấy một phòng ngủ không có cửa phòng, trên bàn cạnh giường để 02 (hai) chiếc điện thoại, trong đó 01 (một) điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG A30 màu đen của ông S và 01 (một) điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG A11 màu xanh dương của vợ ông S là bà Nguyễn Thị H (sinh năm: 1956 trú tại tổ 10, phường H, thành phố Cao Bằng). H lấy hai chiếc điện thoại rồi thoát ra theo hướng đã đột nhập và ngủ trên ghế đá trong khuôn viên Nhà văn hóa trung tâm thành phố Cao Bằng. Khoảng 07 giờ cùng ngày, H đem hai chiếc điện thoại lấy trộm được đến bán cho Đàm Thùy L (sinh năm: 1993, trú tại xóm Nà Luông, xã V, thành phố Cao Bằng), là nhân viên của Cửa hàng mua bán điện thoại Mỹ Anh tại chợ Xanh do Vũ M (sinh năm 1984; trú tại tổ 11, phường H, thành phố Cao Bằng) làm chủ được 3.000.000đ (ba triệu đồng) và mua tại đó 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 plus màu trắng với giá 2.400.000đ (hai triệu bốn trăm nghìn đồng), nhận tiền mặt 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng). Ngày 20/9/2021 H đem chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 plus màu trắng đến Cửa hàng mua bán điện thoại Đặng Lâm thuộc tổ 10, phường S, thành phố Cao Bằng bán được giá 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng). Tại đây, H mua lại 01 (một) điện thoại nhãn hiệu VIVO màu đen với giá 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng) và nhận tiền mặt 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Vật chứng thu giữ: 01 (một) điện thoại đã qua sử dụng, nhãn hiệu SAMSUNG A11 màu xanh dương, số IMEI: 355629111872351; 01 (một) điện thoại đã qua sử dụng nhãn hiệu VIVO màu đen, số IMEI 861687041380678.

Lần thứ tư: Khoảng 00 giờ ngày 23/9/2021 H một mình đi bộ từ vườn hoa trung tâm thành phố Cao Bằng theo hướng lên phường H, thành phố Cao Bằng nhằm mục đích tìm chỗ nào có sơ hở thì trộm cắp tài sản. Khi đi đến khu vực gần trường Chính trị Hoàng Đình Gioong thuộc tổ 01, phường H, thành phố Cao Bằng, H thấy Hà Ngọc D (sinh năm: 2001, trú tại tổ 01, phường H, thành phố Cao Bằng) là con trai của Hà Tiến D (sinh năm: 1976) rời khỏi nhà chỉ khép cửa. H đi vào nhà, thấy tại phòng khách tầng 1 có 01 (một) chiếc máy tính bảng nhãn hiệu Ipad 2 màu đen bạc; 01 (một) đồng hồ đeo tay trên mặt đồng hồ có chữ SEIKO màu đen và 01 (một) chùm chìa khóa xe mô tô đặt trên bàn uống nước; 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu DELL VOSTRO 14 màu đen đặt tại ghế ngồi của bàn uống nước và 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIR BLADE biển kiểm soát 11B1 – 422.40 màu đỏ đen xám dựng ở trong phòng khách nên đã lấy toàn bộ số tài sản trên. Khoảng 2 giờ sáng cùng ngày, H mang chiếc máy tính bảng nhãn hiệu Ipad 2 đi cầm đồ với Nông Mai P (sinh năm 1987; trú tại tổ 11, phường Hợp G, thành phố Cao Bằng), do máy tính hết pin nên P không kiểm tra được bên trong và đồng ý cầm chiếc máy tính bảng với giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Đến chiều cùng ngày khi H đang trốn từ thành phố Cao Bằng đi Bắc Kạn thì bị cơ quan điều tra phát hiện, bắt giữ cùng với tang vật nêu trên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2021, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng đã ra yêu cầu định giá tài sản số 237 yêu cầu xác định giá trị các mà H đã trộm cắp được. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 65/KL-TCKH ngày 30 tháng 9 năm 2021của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cao Bằng kết luận: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A11 màu xanh dương giá trị còn lại là 1.794.000đ (một triệu bảy trăm chín tư nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A30 màu đen giá trị còn lại là 2.508.000đ (hai triệu năm trăm linh tám nghìn đồng); 01 (một) đồng hồ đeo tay trên mặt đồng hồ có chữ SEIKO CHRONOGRAPH 100M màu đen xám giá trị còn lại là 1.275.000đ (một triệu hai trăm bảy mươi năm nghìn đồng); 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu DELL VOSTRO 14 màu đen, số seri 45176/SDPP/20165100 giá trị còn lại là 2.580.000đ (hai triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng); 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIR BLADE biển kiểm soát 11B1 – 422.40 màu đỏ đen xám giá trị còn lại là 40.120.000d (bốn mươi triệu một trăm hai mươi nghìn đồng); 01 (một) máy tính bảng nhãn hiệu Ipad 2 64GB màu đen bạc giá trị còn lại là 940.000đ (chín trăm bốn mươi nghìn đồng).

Xét thấy việc trả lại tang vật của vụ án không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, ngày 18/11/2021 cơ quan điều tra trả lại: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE BKS: 88S3-5762 màu xanh, đã qua sử dụng cho Bùi Văn T là chủ sở hữu; 01 (một) điện thoại đã qua sử dụng, nhãn hiệu SAMSUNG A11 màu xanh dương, số imei 355629111872351 cho Nguyễn Thị H là chủ sở hữu; 01 (một) đồng hồ đeo tay trên mặt đồng hồ có chữ SEIKO CHRONOGRAPH 100M màu đen; 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu DELL VOSTRO 14 màu đen; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIR BLADE biển kiểm soát 11B1 – 422.40 màu đỏ đen xám; 01 (một) máy tính bảng nhãn hiệu Ipad 2 64GB màu đen bạc; 01 (một) chùm chìa khóa xe mô tô tất cả đều đã qua sử dụng cho Hà Tiến D là chủ sở hữu.

Hành vi của Nguyễn Trung H đã bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy tố. Tại bản Cáo trạng số 176/CT-VKSTP ngày 30/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Nguyễn Trung H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trung H thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhất trí với các bản kết luận định giá tài sản đối với tài sản bị cáo đã chiếm đoạt và không có ý kiến khiếu nại về các hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án. Bị cáo nhất trí bồi thường thiệt hại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lương Thị O và Lương Văn T mỗi người số tiền 375.000đ (Ba trăm bảy mươi năm nghìn đồng).

Tại phiên tòa, các bị hại Bùi Văn T, Nguyễn Thị H, Hà Tiến D có đơn xin xét xử vắng mặt và xác nhận đã nhận lại tài sản do bị cáo trộm cắp và không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.

Các bị hại Nguyễn Thị H, Nguyễn Bá X, Hoàng Trọng S có đơn xin xét xử vắng mặt và không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Vũ M, Đặng Đình L, Nông Mai P có đơn xin xét xử vắng mặt và không có yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Lương Thị O, Lương Văn T có đơn xin xét xử vắng mặt, có ý kiến yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại cho bà O và ông T mỗi người số tiền 375.000đ (Ba trăm bảy mươi năm nghìn đồng).

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo Nguyễn Trung H và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, g khoản 1 Điều 52, điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung H phạm tội “Trộm cắp tài sản". Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H từ 36 tháng đến 42 tháng tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, các bị hại Bùi Văn T, Nguyễn Thị H, Hà Tiến D, Nguyễn Thị H, Nguyễn Bá X, Hoàng Trọng S và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Vũ M, Đặng Đình L, Nông Mai P không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên không đặt ra vấn đề xem xét.

Cần buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Lương Thị O số tiền 375.000đ (Ba trăm bảy mươi năm nghìn đồng) và Lương Văn T số tiền 375.000đ (Ba trăm bảy mươi năm nghìn đồng).

Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị xử: Tịch thu phát mại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu đen, IMEI 86168704138, điện thoại cũ đã qua sử dụng do liên quan đến hành vi phạm tội.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng.

Khi được nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội và điều khoản xét xử: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung, vật chứng đã thu giữ, kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được thể hiện trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: Do bản thân sử dụng ma túy và để có tiền phục vụ nhu cầu sinh hoạt của bản thân nên trong khoảng thời gian từ 27/8 đến ngày 23/9 năm 2021, Nguyễn Trung H đã 04 (bốn) lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại khu vực thành phố Cao Bằng. Cụ thể:

Lần thứ nhất, ngày 27/8/2021 chiếm đoạt 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, biển kiểm soát 88S3-5762, giá trị tài sản là 2.146.800đ (hai triệu một trăm bốn sáu nghìn tám trăm đồng).

Lần thứ hai, ngày 01/9/2021 chiếm đoạt 12 (mười hai) kilogam thịt bò; 02 lon nước cocacola loại 320ml; 08 lon nước tăng lực bò húc loại 250ml; 08 (tám) gói mì ăn liền Mộc Việt; Quẩy rán và chè khô không xác định được trọng lượng quẩy và loại chè gì, nơi sản xuất; 01 (một) gói thuốc lào; 01 (một) chiếc đèn pin; 01 (một) chai nước mắm Nam Ngư; 01 (hai) chai giấm hoa quả; 01 (một) lọ mì chính Vedan; 01 (một) gói hạt nêm Aji-ngon. Tổng giá trị tài sản là 3.303.000đ (Ba triệu ba trăm linh ba nghìn đồng).

Lần thứ ba, ngày 19/9/2021 chiếm đoạt 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A11 màu xanh dương và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A30 màu đen, tổng giá trị tài sản đã chiếm đoạt là 4.302.000đ (Bốn triệu ba trăm linh hai nghìn đồng).

Lần thứ tư, ngày 23/9/2021 chiếm đoạt 01 (một) chiếc máy tính bảng nhãn hiệu Ipad 2 64GB màu đen bạc; 01 (một) đồng hồ đeo tay trên mặt đồng hồ có chữ SEIKO màu đen; 01 (một) chùm chìa khóa xe mô tô; 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu DELL VOSTRO 14 màu đen; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIR BLASDE biển kiểm soát 11B1 – 422.40 màu đỏ đen xám. Giá trị tài sản đã chiếm đoạt là 44.915.000đ (bốn mươi bốn triệu chín trăm mười lăm nghìn đồng);

Tổng giá trị tài sản bị cáo H đã chiếm đoạt có giá trị là 54.666.800đ (năm mươi tư triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn tám trăm đồng).

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo lợi dụng sơ hở của các chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản để thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu cá nhân. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 54.666.800đ (năm mươi tư triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn tám trăm đồng) nên phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 022 năm đến 07 năm:

a)

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

…”.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như đã viện dẫn là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo là đơn lẻ, thực hiện nhiều lần ở những địa điểm khác nhau đã trực tiếp xâm phạm tới quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi này không những làm ảnh hưởng tới tình hình trật tự trị an trên địa bàn thành phố Cao Bằng mà còn gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong việc quản lý, bảo vệ tài sản của người dân. Do đó, cần xử lý nghiêm khắc theo quy định của pháp luật.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân rất xấu, có 04 tiền án bị Tòa án xét xử về các tội trộm cắp tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích. Ngoài ra bị cáo đã bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng và bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Điều này cho thấy bị cáo là người có ý thức coi thường pháp luật, không chịu tu dưỡng bản thân để trở thành công dân tốt nên cần có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có tiền án chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội, đồng thời bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần có giá trị trên 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Do đó, bị cáo phải chịu 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm và phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm h, g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015.

Về hình phạt chính, hình phạt bổ sung:

Hình phạt chính: Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy mặc dù bị cáo đã được giáo dục, cải tạo nhiều lần nhưng không lấy đó làm bài học cho mình mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, do đó cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Mức đề nghị hình phạt của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đối với bị cáo là hoàn toàn phù hợp, cần được chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là người không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Bùi Văn T xác nhận đã nhận lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE biển kiểm soát 88S3-5762 màu xanh, đã qua sử dụng và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên cần ghi nhận.

Bị hại Nguyễn Thị H xác nhận đã nhận lại 01 (một) điện thoại SAMSUNG A11, màu xanh dương, số IMEI 355629111872351, đã qua sử dụng và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên cần ghi nhận.

Bị hại Hà Tiến D xác nhận đã nhận lại: 01 (một) đồng hồ đeo tay trên mặt đồng hồ có chữ SEIKO CHRONOGRAPH 100M màu đen, 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu DELL VOSTRO 14 màu đen; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIR BLADE biển kiểm soát 11B1 – 42240, màu đỏ đen xám; 01 (một) máy tính bảng nhãn hiệu Ipad 2 64GB màu đen bạc; 01 (một) chùm chìa khóa xe mô tô tất cả đều đã qua sử dụng và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên cần ghi nhận.

Đối với 01 (một) túi ni lông bên trong có 01 (một) chai nước mắm Nam Ngư, 02 (hai) chai dấm hoa quả, 01 (một) lọ mì chính Vedan; 01 (một) gói hạt nêm Aji-ngon, tất cả đã qua sử dụng. Tổng giá trị tài sản còn lại là 68.100đ (Sáu mươi tám nghìn một trăm đồng). Số thực phẩm này H và H đã sử dụng hết nên không thu được tang vật. Bị hại Nguyễn Thị H không yêu cầu nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên cần ghi nhận.

Đối với 12 (mười hai) kilogam thịt bò; 02 (hai) lon nước Cocacola; 08 (tám) lon nước tăng lực bò húc; 08 (tám) gói mì ăn liền Mộc Việt; 01 (một) gói chè khô; 01 (một) gói thuốc lào; 01 (một) túi quẩy rán, 01 (một) chiếc đèn pin. Tổng giá trị tài sản còn lại 3.234.900đ (Ba triệu hai trăm ba mươi bốn nghìn chín trăm đồng). Số thực phẩm này H và H đã sử dụng hết và chiếc đèn pin H đã đưa cho một người đàn ông tên C ở tỉnh Thanh Hóa sống lang thang tại thành phố Cao Bằng nên không thu được tang vật. Bị hại Nguyễn Bá X không yêu cầu nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên cần ghi nhận.

Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A30, màu đen đã qua sử dụng của ông Hoàng Văn S, bị cáo Nguyễn Trung H đã bán và sử dụng chính số tiền bán được mua một điện thoại nhãn hiệu Iphone, sau đó H lại bán chiếc điện thoại Iphone và sử dụng số tiền bán được mua 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu đen. Giá trị còn lại là 2.508.000đ (Hai triệu năm trăm linh tám nghìn đồng). Bị hại Hoàng Văn S không có yêu cầu nhận lại điện thoại và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên cần được ghi nhận.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Lương Thị O và Lương Văn T. Quá trình điều tra cơ quan Công an xác định khi mua xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE biển kiểm soát 88S3-5762 màu xanh với Nguyễn Trung H không biết đó là tài sản do phạm tội mà có, do vậy không có căn cứ để xử lý. Bà O và ông T yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại cho mỗi người số tiền 375.000đ (Ba trăm bảy mươi năm nghìn). Xét thấy, yêu cầu của bà O và ông T là có căn cứ nên cần buộc bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho bà O và ông T số tiền này.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Vũ M, Đặng Đình L, Nông Mai P khai nhận việc nhận mua bán, cầm cố các tài sản của H mang đến thì không biết đó là các tài sản do phạm tội mà có và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên cần được ghi nhận.

Về việc xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Đối với 01 (một) điện thoại di động VIVO, màu đen, có số IMEI theo Quyết định chuyển vật chứng là 86168704138, điện thoại cũ đã qua sử dụng, do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra được số IMEI thu giữ đối với bị cáo. Tại phiên tòa bị cáo khai nhận đây là tài sản có được do bị cáo dùng số tiền bán tài sản trộm cắp mà có để mua điện thoại nhằm phục vụ nhu cầu cá nhân. Bị hại Hoàng Văn S không có ý kiến gì khác. Xét thấy, đây là tài sản có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo xử tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước.

Các ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Các vấn đề khác:

Đối với hành vi của Hoàng Quốc H: Quá trình điều tra cơ quan Công an xác định H là người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản cùng với Nguyễn Trung H tại cửa hàng của Nguyễn Thị H vào ngày 01/9/2021, xác định giá trị tài sản trộm cắp dưới 2.000.000đ (hai triệu đồng). Kết quả tra cứu H chưa có tiền án, tiền sự, do đó hành vi của H chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên ngày 18/11/2021 Công an thành phố Cao Bằng đã ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, mức phạt 1.000.000đ (một triệu đồng) là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Đối với Đàm Thùy L, Đặng Đình L và Nông Mai P đều khai nhận quá trình nhận mua bán, cầm cố các tài sản của H mang đến thì không biết đó là các tài sản do phạm tội mà có. Do vậy không có căn cứ để xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Trung H phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điểm h, g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Trung H 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày 23/9/2021.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự năm 2015

Bị hại Bùi Văn T, Nguyễn Thị H, Hà Tiến D đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không đặt ra vấn đề xem xét.

Bị hại Nguyễn Thị H, Nguyễn Bá X và Hoàng Trọng S không yêu cầu nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại nên không đặt ra vấn đề xem xét.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nông Mai P, Vũ M, Đặng Đình L không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không đặt ra vấn đề xem xét.

Buộc bị cáo Nguyễn Trung H phải có nghĩa vụ thanh toán cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lương Thị O số tiền 375.000 đồng (Ba trăm bảy mươi năm nghìn đồng).

Buộc bị cáo Nguyễn Trung H phải có nghĩa vụ thanh toán cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lương Văn T số tiền 375.000 đồng (Ba trăm bảy mươi năm nghìn đồng).

3. Về xử lý vật chứng và tài sản: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Xử tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động VIVO, màu đen, có số IMEI theo Quyết định chuyển vật chứng là 86168704138, điện thoại cũ đã qua sử dụng, do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra được số IMEI.

Xác nhận vật chứng của vụ án đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 32 ngày 02/12/2021.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử buộc bị cáo Nguyễn Trung H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

Bị cáo Nguyễn Trung H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch với số tiền là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) để sung công quỹ Nhà nước.

Tổng số tiền án phí bị cáo phải chịu là 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng).

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Các bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Người có quyền lợi liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ