vanban.org

Bản án 02/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Hương Trà, TP. Huế Tuyên án 21/02/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt bị cáo Trần Xuân H 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Trần Xuân H phải chịu 200.000 đồng (Hai … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Xuân H trộm tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ H TRÀ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Bản án số: 02/2022/HS-ST
Ngày: 21/02/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Mộng Trinh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Lương và ông Phan H Hoàng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn PH, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã H Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H Trà tham gia phiên tòa: Ông Trương Phước Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2022, tại Tòa án nhân dân thị xã H Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 44/2021/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2022/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo:

Trần Xuân H (tên gọi khác: Nghé), sinh ngày 20/6/2002 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Thôn Đông H, xã B, thị xã H Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con của ông Trần Xuân L (đã chết) và bà Lê Thị T; chưa có vợ, con; tiền sự: Không; tiền án: Có 01 tiền án: Ngày 07/8/2020 bị TAND thị xã H Trà xử phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp tài sản, ngày 23/3/2021 chấp hành xong hình phạt. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Dương Tiến D - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt

-Bị hại: Ông Phạm Minh L; địa chỉ: Thôn Txã Bình Tiến, thị xã H Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Trần Thị T; địa chỉ: Thôn A, xã Bình Tiến, thị xã H Trà, Thừa Thiên Huế; vắng mặt

- Bà Lê Thị T; địa chỉ: Thôn Đ, xã Bình Tiến, thị xã H Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt

Người làm chứng: Anh Bảo H; địa chỉ: Thôn P, xã Bình Tiến, thị xã H Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 27 tháng 6 năm 2021, Trần Xuân H điều khiển xe mô tô BKS 75K5-2152 chở Bảo H đi chơi. Khi chạy ngang qua garage ô tô của anh Phạm Minh L, Bảo H quan sát thấy phía trong garage có 01 vành xe ô tô bằng kim loại (la zăng) cũ nên rủ H lấy trộm thì H đồng ý. Sau đó H chạy vào garage rồi dừng xe, hướng đầu xe ra ngoài cách đường liên thôn Đông Hòa 7m90 còn Bảo H xuống bê vành xe lên bỏ phía trước xe mô tô 75K5-2152 rồi cùng H chạy đến giấu trong bụi cây ven đường cách đó 78m xong cả hai đi về. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, Bảo H và Trần Xuân H quay lại lấy vành xe trên đem đến bán phế liệu cho bà Trần Thị Thảo với giá 200.000 đồng rồi cùng nhau tiêu xài cá nhân. Sau khi phát hiện mất trộm, anh Phạm Minh Lộc có đơn trình báo đến Công an xã Bình Tiến. Qua truy xét, Cơ quan điều tra đưa Bảo H, Trần Xuân H về trụ sở làm việc thì H, H thừa nhận hành vi của mình.

- Tại bản kết luận định giá tài sản số 47/KL-HĐĐGTS ngày 20/8/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã H Trà kết luận 01 vành xe ô tô đã qua sử dụng có giá trị 237.500 đồng (Hai trăm ba mươi bảy ngàn năm trăm đồng).

Ngày 27/9/2021, Cơ quan CSĐT Công an thị xã H Trà đã trưng cầu Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền Trung xác định tình trạng sức khỏe tâm thần, khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của Trần Xuân H tại thời điểm trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và hiện tại.

Tại bản kết luận giám định số 890/KLGĐ ngày 27/10/2021, Trung tâm pháp y tâm thần miền Trung kết luận như sau:

* Trước thời điểm gây án: Về y học: Động kinh lớn có biến đổi nhân cách (G40). Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.

* Tại thời điểm gây án: Về y học: Động kinh lớn có biến đổi nhân cách (G40). Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.

* Thời điểm hiện tại: Về y học: Động kinh lớn có biến đổi nhân cách (G40). Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.

Ngày 01/11/2021, Cơ quan CSĐT Công an thị xã H Trà có công văn đề nghị Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền Trung kết luận rõ về năng lực trách nhiệm hình sự đối với Trần Xuân H tại thời điểm trước, trong thời điểm gây án và thời điểm hiện tại.

Tại công văn số 360/PYTT-PKHTH ngày 04/11/2021, Trung tâm pháp y tỉnh Thừa Thiên Huế trả lời như sau: “Trước thời điểm gây án, tại thời điểm gây án và thời điểm hiện tại (ngày 25/10/2021) Trần Xuân H mặc dù hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi, nhưng vẫn chịu trách nhiệm hình sự”.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream, BKS 75K5-2152; 01 đĩa DVD-R lưu trữ đoạn video thu từ camera an ninh tại garage ô tô của anh Phạm Minh Lộc ngày 27/6/2021

Đối với 01 vành xe ô tô bằng kim loại đã qua sử dụng, sau khi lấy trộm Bảo H và Trần Xuân H khai nhận đã đem bán cho bà Trần Thị Thảo, sau đó bà Thảo đã bán cho 01 người lạ mặt không xác định được nhân thân lai lịch cụ thể, Cơ quan điều tra đã xác minh truy tìm nhưng không có kết quả.

Ngày 05/11/2021, Cơ quan CSĐT Công an thị xã H Trà đã xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại 01 xe mô tô BKS 75K5-2152 cho chủ sở hữu bà Lê Thị Thúy.

Về dân sự: Quá trình điều tra vụ án, bà Lê Thị Thúy là mẹ bị cáo đã thỏa thuận bồi thường cho anh Phạm Minh Lộc số tiền 300.000 đồng. Anh Lộc đã nhận tiền và không có yêu cầu gì thêm.

Trong vụ án, xác định vào ngày 27/6/2021 Bảo H tham gia cùng Trần Xuân H trộm cắp 01 vành xe ô tô. Do tài sản chiếm đoạt có giá trị dưới 2.000.000 đồng, đồng thời H chưa bị kết án, chưa bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản nên không đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản. Cơ quan CSĐT Công an thị xã H Trà ra quyết đinh xử phạt vi phạm hành chính đối với Bảo H là có căn cứ.

Đối với bà Trần Thị Thảo có hành vi mua 01 vành xe ô tô do Trần Xuân H đem bán ngày 27/6/2021. Tuy nhiên bà Thảo hoàn toàn không biết nguồn gốc tài sản do H trộm cắp mà có đồng thời không hứa hẹn trước nên không có căn cứ xử lý.

Đối với 01 chiếc xe mô tô BKS 75K5-2152 mà bị cáo sử dụng làm pH tiện gây án, chủ sở hữu là bà Lê Thị Thúy không biết việc H lấy xe mô tô đi chơi sau đó phạm tội nên không có căn cứ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 45/CT-VKS-HTr ngày 15/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân thị xã H Trà đã truy tố bị cáo Trần Xuân H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H Trà giữ nguyên quyết định truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; các điểm b, h, q, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự để tuyên bố bị cáo Trần Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt bị cáo từ 03 đến 05 tháng tù. Về dân sự: Không có yêu cầu nên đề nghị không xem xét. Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố; thành khẩn xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội sửa chữa sai lầm, làm công dân tốt cho xã hội.

Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; các điểm b, h, q, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo để bị cáo có điều kiện chữa bệnh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã H Trà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã H Trà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội, đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 17 giờ 34 phút ngày 27/6/2021, tại garage ô tô của anh Phạm Minh L ở thôn Đông H, xã Bình Tiến, thị xã H Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế, Trần Xuân H và Bảo H có hành vi trộm cắp 01 vành xe ô tô có giá trị 237.500 đồng (Hai trăm ba mươi bảy ngàn năm trăm đồng). Do Trần Xuân H đã bị kết án về tội Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích nay lại phạm tội nên hành vi đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Như vậy, cáo trạng số 45/CT-VKS-HTr ngày 15/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã H Trà truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào và được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: Bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường thiệt hại; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; bị cáo là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi; bị cáo đã thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải theo quy định tại các điểm b, h, q, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng: Mặc dù bị cáo là người hạn chế khả năng nhận thức và hành vi nhưng bị cáo vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự, hành vi mà bị cáo gây ra đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa pH; bị cáo đã từng bị kết án về tội phạm chiếm đoạt tài sản nay lại cố ý phạm tội, nên HĐXX không chấp nhận lời đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo của người bào chữa, mà HĐXX thấy cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và cũng như răn đe, phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, xem xét cho bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cần áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đảm bảo tính nghiêm minh.

Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong, đúng pháp luật

Về dân sự: Đã giải quyết xong, không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản”

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; các điểm b, h, q, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Trần Xuân H 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Trần Xuân H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người bào chữa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với những người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ