- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn U 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01 tháng 10 năm 2021.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN NHÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 02/2022/HS-ST Ngày 05/01/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Bé Thu
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Quang Trí;
Ông Lê Quốc Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký – Thư ký Tòa án, của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đức Anh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 172/2021/TLST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 178/2021/QĐXXST-HS, ngày 22 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn U (tên gọi khác Út Té Giếng), sinh năm 1985 tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Nơi cư trú: khóm N, phường M, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ (chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1952; bị cáo sống chung như vợ chồng với Huỳnh Thị Tuyết T, sinh năm 1995; có 01 con sinh năm 2020;
Tiền án:
- Ngày 25 tháng 12 năm 2007, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 06 tháng 10 năm 2008 chấp hành xong hình phạt tù;
- Ngày 22 tháng 6 năm 2009, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 05 tháng 3 năm 2011 chấp hành xong hình phạt tù;
- Ngày 04 tháng 5 năm 2012, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (giá trị tài sản chiếm đoạt 980.000đồng), đến ngày 16 tháng 8 năm 2013 chấp hành xong hình phạt tù;
- Ngày 11 tháng 12 năm 2014, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 28 tháng 02 năm 2017 chấp hành xong hình phạt tù;
- Ngày 08 tháng 11 năm 2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (giá trị tài sản chiếm đoạt 384.500đồng), đến ngày 09 tháng 7 năm 2019 chấp hành xong hình phạt tù;
Tiền sự: Không;
Nhân thân: Nhỏ đến lớn sống chung với cha mẹ tại phường Mỹ Bình, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, đi học đến hết lớp 3 thì nghỉ học; ngày 01 tháng 8 năm 2003 bị Ủy ban nhân dân thành phố Long Xuyên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Trường Giáo dưỡng thời hạn 24 tháng, đến ngày 06 tháng 8 năm 2005 chấp hành xong quyết định.
Bị cáo có 03 anh, em bị cáo thứ ba.
Trong vụ án này bị cáo bị bắt tạm từ ngày 01 tháng 10 năm 2021 đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Nguyễn Quốc C, sinh năm 1986 (Vắng mặt)
Địa chỉ: ấp P, xã L, thị xã T, tỉnh An Giang;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Đào Thanh Đ, sinh năm 1992 (Vắng mặt)
Địa chỉ: phường M, thành phố LX, tỉnh An Giang;
2/ Bà Nguyễn Thị Mai Kh, sinh năm 1988 (Vắng mặt)
Địa chỉ: ấp P, xã L, thị xã T, tỉnh An Giang
- Người làm chứng: Ông Lê Trần Vũ K, sinh năm 1978 (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 08/3/2021 bị cáo Nguyễn Văn U đến Bệnh viện Sản Nhi An Giang ở phường Mỹ Bình, thành phố Long Xuyên để tìm tài sản lấy trộm. Khi đi qua phòng số 02 lầu 3, khu nội trú khoa hậu phẩu sản bị cáo thấy trên giường trong phòng có để chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A51 đang ghim sạc nên vào lấy trộm. Sau đó, bị cáo đem điện thoại trên đến tiệm điện thoại Thanh Đoàn ở phường Mỹ Long, thành phố Long Xuyên cầm cho Đào Thanh Đ với giá 2.500.000đồng.
Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 08/3/2021 ông C phát hiện bị mất điện thoại nên cùng ông Lê Trần Vũ K (bảo vệ bệnh viện) xem camera an ninh của bệnh viện thì thấy một người nam leo rào cổng số 4 ra khỏi bệnh viện nên ông C đến Công an nhân dân phường Mỹ Bình trình bày.
Số tiền 2.500.000đồng sau khi cầm điện thoại bị cáo mua 01 điện thoại Xiaomi Redmi màu xanh với giá 1.500.000đồng; lấy 100.000đồng tiêu xài và còn lại 900.000đồng.
Đến khoảng 16 giờ ngày 08/3/2021 bị cáo đến Công an nhân dân phường Mỹ Bình đầu thú, giao nộp điện thoại Xiaomi Redmi, đưa 900.000đồng cho ông C và dẫn ông C đến tiệm điện thoại Thanh Đoàn để ông C chuộc lại điện thoại. Ông C bù thêm 1.600.000đồng để chuộc lại điện thoại và giao nộp cho Công an nhân dân phường Mỹ Bình.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 điện thoại Xiaomi Redmi màu xanh;
- 01 điện thoại Samsung Galaxy A51 có gắn sim số 0794.821.055.
Kết luận về việc xác định giá trị tài sản số 83 ngày 08 tháng 3 năm 2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Long Xuyên, xác định: Điện thoại Samsung Galaxy A51, trị giá 4.833.000đồng.
Cáo trạng số 162/CT-VKS, ngày 25 tháng 11 năm 2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên truy tố bị cáo Nguyễn Văn U về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “đầu thú”, “bị hại đề nghị miễn trách nhiệm hình sự” quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Xiaomi Redmi màu xanh.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo đồng ý kết luận định giá đối với tài sản bị cáo trộm; không khiếu nại gì đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố. Bị cáo không tranh luận với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: Ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra, thể hiện nội dung: Ngày 08/3/2021 bị hại bị mất 01 điện thoại Samsung Galaxy A51 có gắn sim số 0794.821.055. Sau đó bị hại đã nhận lại điện thoại, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại dân sự số tiền 1.600.000đồng mà bị hại đã bỏ ra chuộc lại điện thoại. Không yêu cầu bồi thường thiệt hại dân sự thêm; không yêu cầu khởi tố hình sự đối với bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đào Thanh Đ khai: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 08/3/2021 có một người nam đến cầm cho ông một điện thoại Samsung Galaxy A51. Đến khoảng 14 giờ 30 phút, thì người này quay lại với một người nam khác và chuộc lại điện thoại với giá 2.500.000đồng. Ông không biết điện thoại do phạm tội mà có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt; tuy nhiên quá trình điều tra lời khai đã được làm rõ. Bị hại không có yêu cầu bồi thường về dân sự nên căn cứ vào khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Khoảng 12 giờ ngày 08/3/2021 bị cáo Nguyễn Văn U đã lấy trộm của ông Huỳnh Quốc C 01 điện thoại Samsung Galaxy A51 tại phòng số 02, lầu 2 khu nội trú khoa hậu sản của Bệnh viện Sản nhi An Giang. Giá trị tài sản bị cáo lấy trộm theo Kết luận về việc định giá tài sản số 83/KL.HĐ, ngày 08 tháng 3 năm 2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Long Xuyên, là 4.833.000đồng. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và đồng ý với kết luận về việc định giá đối với tài sản bị cáo lấy trộm. Sự thừa nhận này phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra.
Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Như vậy, cáo trạng số 162/CT-VKS, ngày 25 tháng 11 năm 2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo đã 01 lần bị đưa vào Trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục và 05 lần bị Tòa án xử phạt đều về hành vi trộm cắp tài sản nhưng lần này bị cáo lại tiếp tục bị xét xử về hành vi trộm cắp tài sản. Điều đó, chứng tỏ bị cáo có một nhân thân rất xấu, xem thường pháp luật. Bị cáo đang trong độ tuổi lao động nhưng không tìm một công việc tạo thu nhập hợp pháp nuôi sống bản thân mà hết lần này đến lần khác đi trộm cắp tài sản của người khác để có tiền tiêu xài. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu được pháp luật bảo vệ. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống. Giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh phòng chống tội phạm.
Về tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tại thời điểm xảy ra sự việc, bị cáo đã đến Công an nhân dân phường Mỹ Bình đầu thú về hành vi phạm tội của mình; bị hại có đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó, đề nghị của Viện kiểm sát thành phố Long Xuyên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ nên được chấp nhận.
Bị cáo đã bị kết án, chưa được xoá án tích mà lại thực hiện hành vị phạm tội do cố ý. Do đó, đề nghị của Viện Kiểm sát thành phố Long Xuyên đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo là có căn cứ nên được chấp nhận.
Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng này sẽ được Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có việc làm, không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 điện thoại Samsung Galaxy A51 là tài sản bị cáo lấy trộm của bị hại đã được giao trả lại cho bị hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 điện thoại Xiaomi Redmi màu xanh là vật được mua từ tiền phạm tội mà có nên tịch thu sung quỹ Nhà nước theo quy định.
Ông Đào Thanh Đ nhận cầm điện thoại Samsung Galaxy A51 nhưng không biết là tài sản phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Long Xuyên không truy cứu trách nhiệm hình sự ông Đoàn tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn U phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn U 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01 tháng 10 năm 2021.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn U phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại Xiaomi Redmi, màu xanh, đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Long Xuyên với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên ngày 22 tháng 12 năm 2021).
Căn cứ Điều 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án;
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV-THA, TAND tỉnh An Giang; - VKSND tỉnh An Giang; - VKSND TP. Long Xuyên; - Chi cục THADS TP. Long Xuyên; - Nhà tạm giữ - CA TP. Long Xuyên; - Sở Tư pháp tỉnh AG; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu VP; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Bé Thu |