- Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ng V L phạm tội “ Cố ý gây thương tích” và tội : “ Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự năm; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự năm
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2022/HS-ST Ngày: 04-01-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trúc Thiện.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Công Danh
Ông Nguyễn Thái Hòa
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thanh-Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Hà Quốc Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 405/2021/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 383/2021/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2021 và thông báo ngày 28/12/2021 đối với bị cáo: Ng V L. Sinh năm 1972, tại Đồng Nai.Tên gọi khác: Bi; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: 128/38, khu phố 3, phường Quang Vinh, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn Văn Dữ, sinh năm 1955 (đã chết) và bà Lê Thị Xuân, sinh năm 1939 (đã chết); Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ năm; Sống chung như vợ chồng với Nguyễn Thị Thanh, sinh năm 1969 và chưa có con.
Tiền án:
+ Ngày 14/11/1996, bị Tòa án phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 10 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” theo khoản 3 Điều 155 Bộ luật hình sự năm 1985. Ngày 05/8/2003, Lợi chấp hành xong hình phạt tù, chưa chấp hành xong bản án về phần buộc nộp tài sản sung công.
+ Ngày 18/10/2004 và 08/11/2004, Lợi thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trị giá 14.700.000đ (Mười bốn triệu bảy trăm nghìn đồng). Ngày 15/3/2005, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Lợi chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/5/2007.
+ Ngày 16/11/2007, Lợi trộm cắp tài sản trị giá 11.000.000đ (Mười một triệu đồng). Ngày 17/3/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt Lợi 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong bản án ngày 16/5/2010.
+ Ngày 19/11/2012, Lợi trộm cắp tàn sản trị giá 12.600.000đ (Mười hai triệu sáu trăm nghìn đồng). Ngày 10/6/2013, bị Tòa án nhân dân tỉnh Long An xử phạt 05 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Bị cáo đã chấp hành xong bản án ngày 19/8/2017.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 22/7/1994, Lợi trộm cắp số tiền 86.000đ (Tám mươi sáu nghìn đồng). Ngày 17/11/1994, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”.
Bị cáo bị bắt theo Quyết định truy nã số 16 ngày 25/4/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Biên Hòa.
Bị hại: Anh Trần Nhật Long, sinh năm 1975, ngụ tại: C122, khu phố 5, phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa
Chị Bùi Thị Loan, sinh năm 1990, ngụ tại: ấp An Long B, xã Long Phú, huyện Tân Châu, tỉnh An Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vụ thứ nhất: Hành vi phạm tội “Cố ý gây thương tích”: Vào năm 2019 (không rõ ngày), Ng V L vay tiền của anh Trần Nhật Long, anh Long đã nhiều lần đòi tiền nợ nhưng Lợi không trả, khoảng 13 giờ 30 phút ngày 17/5/2019, anh Long rủ bạn là anh Lê Đức Tuấn Anh (tên gọi khác là Chín Beo - sinh năm 1981, ngụ tại: 1/3b, tổ 10, khu phố 2, phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa) và anh Phan Trọng Tranh (tên gọi khác là Danh sinh năm 1983, ngụ tại tổ 10, khu phố 2, phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa) cùng đi đến nhà của Lợi tại tổ 5, khu phố 1, phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa để đòi tiền nợ. Khi đến nơi, anh Long gặp Lợi đang ở trong nhà và hỏi Lợi “Tại sao không trả tiền” thì anh Long và Lợi xảy ra mâu thuẫn cãi vã lớn tiếng với nhau. Anh Long lấy 01 cái kìm bằng kim loại dài 20cm trong túi quần ra, còn Lợi chạy vào trong nhà cầm ra 01 con dao tự chế dài khoảng 45cm chạy ra cổng và xông vào đánh nhau với anh Long. Lợi dùng dao chém 01 nhát trúng vào khuỷu tay trái của anh Long gây thương tích. Sau đó, anh Long được những người xung quanh đưa đi Bệnh viện cấp cứu, còn Lợi cầm dao bỏ trốn.
Vật chứng của vụ án cố ý gây thương tích: 01 con dao bằng sắt, cán dài khoảng 10cm, lưỡi dài khoảng 35cm do Lợi sử dụng; 01 cái kìm bằng inox màu trắng, dài khoảng 20cm do anh Long sử dụng.
Vụ thứ hai: Hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản”: Khoảng 09 giờ ngày 16/9/2020 Ng V L nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài. Để thực hiện hành vi phạm tội, Lợi dùng xe mô tô biển số 60L6-8422 làm phương tiện và mang theo 01 đoạn kim loại tròn dài khoảng 30cm, có 01 đầu được bẻ cong và điều khiển xe mô tô biển số 60L6-8422 đi đến khu vực phường An Bình – TP Biên Hòa tìm nơi có tài sản không có người trông coi để lấy trộm. Khoảng 10 giờ cùng ngày, Lợi phát hiện dãy phòng trọ tại khu nhà trọ số 218, tổ 10, khu phố 3, phường An Bình, thành phố Biên Hòa, phía trước bên ngoài các phòng trọ, các cửa phòng đều đang khóa cửa. Lúc này, Lợi dừng xe bên ngoài đầu dãy nhà trọ rồi quan sát thấy không có người trông coi, nên Lợi xuống xe đi bộ vào lối đi chung của dãy trọ đến đứng phía trước cửa phòng trọ số 3 của chị Bùi Thị Loan đang thuê trọ. Lợi lấy trong túi quần ra đoạn kim loại để bẻ ổ khóa cửa vào phòng số 3 của chị Loan lấy trộm tài sản thì bị ông Tống Duy Mừng (sinh năm 1959, ngụ tại tổ 10, khu phố 3, phường An Bình, thành phố Biên Hòa) phát hiện truy hô, cùng những người dân bắt giữ Lợi trình báo Công an phường An Bình.
Vật chứng của vụ án Trộm cắp tài sản: 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh đen có số Imel1: 352885106012006, Imel2: 352885107012005 và 01 chiếc bóp da màu đen bên trong có 540.000đ (Năm trăm bốn mươi nghìn đồng); 01 đoạn kim loại tròn dài 30cm có một đầu được bẻ cong là công cụ trộm cắp; 01 xe mô tô biển số 60L6-8422, nhãn hiệu Mingxing màu đỏ. Qua tra cứu tại Đội Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Đồng Nai xác định xe của chị Châu Thị Phước An, ngụ tại A2/54, phường Tân Vạn, thành phố Biên Hòa, hiện chưa làm việc được với chủ sở hữu.
Tại Cơ quan điều tra, Ng V L khai nhận hai lần thực hiện hành vi tội phạm như đã nêu trên.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 0476/TgT/2019 ngày 28/5/2019 kết luận thương tích của anh Trần Nhựt Long như sau:
“Dấu hiệu chính qua giám định:
- Hạn chế gập duỗi cẳng tay trái từ 05 độ đến 145 độ. (Áp dụng Chương 8, điều II, mục 3.2.1). Tỷ lệ 11%
- Tổn thương gãy lồi cầu ngoài xương cánh tay trái (Áp dụng Chương 8, điều I, mục 8.3). Tỷ lệ 03%.
- Sẹo khuỷu trái kích thước 07cm x 0,2cm (Áp dụng Chương 9, điều I, mục 1). Tỷ lệ 03%.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể (Áp dụng theo phương pháp cộng lùi) do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 16% (Mười sáu phần trăm).
Vật gây thương tích: Vật sắc.”
Về trách nhiệm dân sự dân sự: Bị hại Trần Nhựt Long yêu cầu Ng V L bồi thường số tiền điều trị thương tích và các khoản chi phí khác là 63.145.857đ (Sáu mươi ba triệu một trăm bốn mươi lăm nghìn tám trăm năm mươi bảy đồng). Hiện bị cáo Lợi chưa bồi thường.
Bị hại Bùi Thị Loan chưa bị mất tài sản nên không yêu cầu bồi thường.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại Bản cáo trạng số 107/CT-VKSBH - HS ngày 29/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Ng V L về tội "Cố ý gây thương tích", theo quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 134 và tội : “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 134 về tội "Cố ý gây thương tích" và điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 15 về tội : “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Bộ luật Hình sự năm năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
xử phạt bị cáo Ng V L từ 2 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03(ba) năm từ về tội"Cố ý gây thương tích"
xử phạt bị cáo Ng V L từ 06(sáu) tháng tù đến 08 (tám) tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”
Về Trách nhiệm dân sự và vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, Điều 584, Điều 585 và Điều 590 Bộ luật Dân sự đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao bằng sắt, cán dài khoảng 10cm, lưỡi dài khoảng 35cm; 01 cái kìm bằng inox màu trắng dài khoảng 20 cm; 01 đoạn bằng kim loại tròn dài 30cm có 01 đầu được bẻ cong.
- Trả lại cho Ng V L 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh đen, có số Imel1: 352885106012006, Imel2: 352885107012005 và 01 bóp da màu đen.
- Tiếp tục tạm giữ số tiền 540.000đ (Năm trăm bốn mươi nghìn đồng) để đảm bảo thi hành án.
- Buộc Ng V L bồi thường tiền chi phí điều trị thương tích và các khoản chi phí khác cho anh Trần Nhựt Long số tiền 63.145.857 đồng.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về việc truy tố của Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng trong hồ sơ vụ án: Cơ quan điều tra Công an thành phố Biên Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, tại phiên tòa bị cáo cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng . Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa và quá trình điều tra bị cáo Ng V L đều khai nhận khoảng 13 giờ 30 phút ngày 17/5/2019, tại tổ 5, khu phố 1, phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa, do có mâu thuẫn vì bị anh Trần Nhật Long đòi lại nợ vay dẫn đến mâu thuẫn cãi vã, Ng V L có hành vi dùng 01 con dao tự chế dài khoảng 45cm chém 01 nhát trúng vào vùng khuỷu tay trái của anh Long gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể 16% (Mười sáu phần trăm). Sau khi phạm tội, Ng V L bỏ trốn.
Đến khoảng 10 giờ ngày 16/9/2020, tại phòng trọ số 3, địa chỉ số 218, tổ 10, khu phố 3, phường An Bình, thành phố Biên Hòa, Ng V L tiếp tục thực hiện hành vi dùng cây sắt bẻ ổ khóa cửa phòng trọ của chị Bùi Thị Loan để trộm cắp tài sản nhưng chưa lấy được tài sản thì bị phát hiện bắt giữ.
Đối chieáu lôøi khai của bò caùo phuø hôïp vôùi lời khai của những người làm chứng và caùc chöùng cöù khaùc theå hieän taïi hoà sô vuï aùn, töø ñoù ñaõ coù ñuû caên cöù ñeå xaùc ñònh haønh vi phaïm toäi cuûa bò caùo đúng như cáo trạng đã truy tố. Qua xem xeùt nhân thân và hành vi của bị cáo xét thấy Vieän kieåm saùt nhaân daân thaønh phoá Bieân Hoøa ñaõ truy toá bò caùo Ng V L về tội "Cố ý gây thương tích", theo quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 134 và tội : “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 và Điều 15 Bộ luật Hình sự năm năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng pháp luật.
[3]Tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm an toàn công cộng, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, bị cáo bị bắt theo lệnh truy nã, nên cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và để phòng ngừa chung.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường cho người bị hại anh Long đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự . Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xem xét quyết định hình phạt khi lượng hình phạt đối với bị cáo.
[4]Về Trách nhiệm dân sự và vật chứng của vụ án:
Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, Điều 584, Điều 585 và Điều 590 Bộ luật Dân sự
Về trách nhiệm dân sự dân sự: Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 63.145.857đ (Sáu mươi ba triệu một trăm bốn mươi lăm nghìn tám trăm năm mươi bảy đồng) cho người bị hại Trần Nhựt Long, nên ghi nhận.
Bị hại chị Bùi Thị Loan chưa bị mất tài sản nên không yêu cầu bồi thường, nên không xem xét.
Vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao bằng sắt, cán dài khoảng 10cm, lưỡi dài khoảng 35cm; 01 cái kìm bằng inox màu trắng dài khoảng 20 cm; 01 đoạn bằng kim loại tròn dài 30cm có 01 đầu được bẻ cong.
Trả lại cho Ng V L 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh đen, có số Imel1: 352885106012006, Imel2: 352885107012005 và 01 bóp da màu đen.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 540.000đ (Năm trăm bốn mươi nghìn đồng) để đảm bảo thi hành án.
Đối với chiếc xe mô tô biển số 60L6-8422, nhãn hiệu Mingxing màu đỏ là phương tiện bị cáo Ng V L sử dụng đi trộm cắp tài sản, hiện chưa làm việc được với chủ sở hữu và chưa xác định được nguồn gốc xe nên đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa tách ra tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau. Nên không xét.
[5]Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.157.292 đồng án phí DSST.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm d, đ khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 15 Điều 55; Điều 57; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Ng V L phạm tội “ Cố ý gây thương tích” và tội : “ Trộm cắp tài sản”
Xử phạt bị cáo Ng V L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “ Cố ý gây thương tích” và xử phạt bị cáo Ng V L 06 (sáu) tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” Thời hạn tù tính từ ngày 16/9/2020.
Tổng hợp hình phạt của hai tội bị cáo phải chịu là 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/9/2020.
Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, Điều 584, Điều 585 và Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015
Về trách nhiệm dân sự dân sự: Buộc bị cáo Ng V L bồi thường số tiền 63.145.857đ (Sáu mươi ba triệu một trăm bốn mươi lăm nghìn tám trăm năm mươi bảy đồng) cho người bị hại Trần Nhựt Long.
Bị hại chị Bùi Thị Loan chưa bị mất tài sản nên không yêu cầu bồi thường, nên không xem xét.
Vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao bằng sắt, cán dài khoảng 10cm, lưỡi dài khoảng 35cm; 01 cái kìm bằng inox màu trắng dài khoảng 20 cm; 01 đoạn bằng kim loại tròn dài 30cm có 01 đầu được bẻ cong.
Trả lại cho bị cáo Ng V L 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh đen, có số Imel1: 352885106012006, Imel2: 352885107012005 và 01 bóp da màu đen.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 540.000đ (Năm trăm bốn mươi nghìn đồng) để đảm bảo thi hành án.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/3/2021 và biên lai thu tiền số 000499 ngày 11/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự TP. Biên Hòa)
Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 3.157.292 đồng án phí DSST.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án. Nơi nhận:
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo (01);
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- VKSND Tp.Biên Hòa (01);
- VKSND tỉnh Đồng Nai (01);
- Công an Tp.Biên Hòa (01);
- Cơ quan Thi hành án (01);
- Tòa án tỉnh Đồng Nai (01);
- Lưu VP-HS (04).
Nguyễn Trúc Thiện
| Nơi nhận: - Bị cáo, bị hại, bị đơn dân sự (03); - VKSND Tp.Biên Hòa (01); - VKSND tỉnh Đồng Nai (01); - Công an Tp.Biên Hòa (01); - Cơ quan Thi hành án (01); - Tòa án tỉnh Đồng Nai (01); - Lưu VP-HS (04). | TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Trúc Thiện |