- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vương Văn Q - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vương Văn Q (tên gọi khác là Vương Xuân Q) phạm tội "Cố ý gây thương tích".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2022/HS-ST Ngày: 30- 01 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trịnh Cẩm Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đắc Quýnh và bà Nguyễn Thị Huệ.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Mai Hoa - Thư ký Toà án nhân dân huyện ns, tỉnh HD.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ns, tỉnh HD tham gia phiên toà: Ông Phùng Văn Huấn - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện ns, tỉnh HD xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 68/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:
Vương Văn Q (tên gọi khác: Vương Xuân Q), sinh năm: 1980; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn MX, xã MT, huyện ns, tỉnh HD; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Vương Xuân H và bà Bùi Thị Kh. Ông H và bà Kh được Hội đồng cố vấn Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam tặng huân chương chiến sĩ giải phóng hạng nhất năm 1975; Vợ là chị Bùi Thị S, sinh năm 1981; Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2008;
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 16/12/2004, Tòa án nhân dân huyện ns xử phạt 08 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng tính từ ngày tuyên án về tội Trộm cắp tài sản. Đã chấp hành xong bản án ngày 16/4/2006.
Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Ông Nguyễn Khắc H, sinh năm 1979;
Vắng mặt tại phiên tòa.
Địa chỉ: Thôn UH, xã MT, huyện ns, HD.
* Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Ánh S, sinh năm 1966;
Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 02/12/2022, sau khi uống bia, Vương Văn Q (tên gọi khác Vương Xuân Q) đến phòng làm việc của ông Nguyễn Khắc H, sinh năm 1979, trú tại thôn UH, xã MT, huyện ns, tỉnh HD (là chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã MT, huyện ns) để yêu cầu giải quyết về vấn đề rác thải ảnh hưởng đến ao của nhà mình. Khi đến nơi, Q gặp ông H đang xét duyệt, ký văn bản cho ông Nguyễn Ánh S, sinh năm 1966 (Công an viên của xã MT). Q ngồi ở bàn uống nước và hỏi ông H về việc xử lý đối với rác thải ảnh hưởng đến nhà mình đến đâu thì xảy ra cãi nhau, mâu thuẫn với ông H. Do bực tức nên khi ông H mở tủ đựng tài liệu thì Q đứng dậy, đối diện ông H khoảng 02m đến 03m, tay phải cầm 01 chiếc cốc sứ màu trắng ném theo chiều ngang, hướng từ trong ra ngoài trúng vào trán bên phải ông H và cốc đập vào làm vỡ cửa kính tủ đựng tài liệu của ông H để trong phòng. Ngay sau đó thì Q đi về, khi ra đến cổng Ủy ban nhân dân xã MT thì bị lực lượng Công an xã MT yêu cầu ở lại làm việc. Ngày 06/12/2022, ông H có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với Vương Văn Q.
Tại Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 374/TgT ngày 07/12/2022 của Trung tâm pháp y Sở y tế HD kết luận: giám định thương tích của ông Nguyễn Khắc H vào ngày 06/12/2022. Dấu hiệu chính qua giám định vết thương phần mềm vùng mặt ở trán phải kích thước nhỏ; tổn thương trên có đặc điểm do vật tày gây ra. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 03%.
Tại Kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐĐGTS ngày 10/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện ns kết luận: tại thời điểm tháng 12/2022, 01 chiếc cốc màu trắng ngà, loại gốm Chu Đậu, kích thước cao 10 cm, đường kính miệng cốc 8cm, trên thân có in hình hoa văn trị giá 68.300 đồng; 01 tấm kính màu trắng, dạng kính thường của cửa tủ đựng tài liệu, kích thước dài 105cm, rộng 37 cm dày 0,3cm trị giá 58.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 126.300 đồng.
Vật chứng thu giữ: Các mảnh vỡ từ chiếc cốc uống nước bằng gốm màu trắng do bị cáo sử dụng gây thương tích cho ông H hiện đang được quản lý tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện ns.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác.
Tại Cáo trạng số 04/CT-VKS-NS ngày 27/12/2022, Viện kiểm sát nhân huyện ns, tỉnh HD truy tố Vương Văn Q (tên gọi khác là Vương Xuân Q) về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, k khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo xác định lý do bị cáo gây thương cho bị hại là do bị cáo đã rất nhiều lần đề đạt với bị hại việc rác thải của xã rơi xuống ao nhà bị cáo gây ô nhiễm nguồn nước ao ảnh hưởng rất lớn tới kinh tế của cả gia đình bị cáo nhưng không được giải quyết. Hơn nữa, giữa bị cáo và bị hại có quan hệ họ hàng, bị cáo là chú họ của bị hại nên bị cáo bị ảnh hưởng của quan hệ nội tộc trong lời nói và hành vi đối với bị hại. Nay bị cáo rất hối hận mong Hội đồng xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ns giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vương Văn Q (tên gọi khác là Vương Xuân Q) phạm tội "Cố ý gây thương tích"; Về hình phạt: Căn cứ điểm a, k khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, đề nghị: Xử phạt bị cáo Vương Văn Q từ 08 đến 11 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 đến 22 tháng tính từ ngày tuyên án; Giao bị cáo Q cho UBND xã MT, huyện ns, tỉnh HD giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy các mảnh vỡ từ chiếc cốc uống nước bằng gốm màu trắng ngà theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Về trách nhiệm dân sự: Không phải giải quyết; Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất và cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện ns, Điều tra viên, VKSND huyện ns, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 35 phút ngày 02/12/2022, tại phòng làm việc của ông Nguyễn Khắc H, trú quán thôn UH, xã MT, huyện ns, HD (là chủ tịch Ủy ban nhân dân xã MT, huyện ns), bị cáo có hành vi cầm 01 chiếc cốc uống nước màu trắng bằng gốm, cao 10 cm, đường kính miệng 08cm bằng tay phải ném vào vùng trán bên phải của ông Nguyễn Khắc H khi ông H đang xét duyệt, ký văn bản của Ủy ban nhân dân xã MT. Hậu quả, ông H bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03%. Ông Nguyễn Khắc H có đơn yêu cầu khởi tố.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì coi thường sức khỏe của người khác nên vẫn cố ý thực hiện. Mặc dù, thương tích mà bị cáo gây ra cho ông H với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03% nhưng do bị cáo dùng cốc loại gốm Chu Đậu, theo hướng dẫn tại Nghị quyết 01/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao được xác định là “Hung khí nguy hiểm” để ném về phía ông H lúc đó đang làm việc tại phòng làm việc của Chủ tịch xã, trúng phần trán phải ông H gây thương tích nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm a, k khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do đó, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện ns là đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến sức khoẻ của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị án, gây dư luận xấu trong nhân dân. Giữa ban ngày, trong giờ làm việc, bị cáo đã vào phòng làm việc của bị hại trong trụ sở UBND xã, ném cốc vào phần trán gây thương tích cho bị hại là 03%, điều đó thể hiện thái độ coi thường pháp luật của bị cáo. Mặt khác, bị cáo có nhân thân xấu – năm 2004 phạm tội Trộm cắp tài sản và bị Tòa án nhân dân huyện ns xử phạt 08 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng tính từ ngày tuyên án. Bị cáo đã chấp hành xong bản án ngày 16/4/2006. Tuy nhiên bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân mà nay lại tiếp tục có hành vi gây thương tích cho người khác. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình; sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại; bố mẹ bị cáo là người có công với nước được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sĩ giải phóng; hơn nữa nguyên nhân một phần dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo là do bị hại đã có lời nói thiếu chuẩn mực văn hóa công sở gây bức súc cho bị cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Xét thấy bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần cách ly bị cáo mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự: Giữa bị cáo và bị hại đã thỏa thuận xong về việc bồi thường, bị hại không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về vật chứng: Đối với các mảnh vỡ từ chiếc cốc uống nước bằng gốm màu trắng ngà là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Luật phí và lệ phí Tòa án; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đối với hành vi làm hư hỏng tài sản cá nhân và gây rối trật tự công cộng của bị cáo chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự nên cơ quan Công an huyện ns đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02/QĐ-XPHC ngày 20/12/2022 là phù hợp. Do vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a, k khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 47; Điều 65 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vương Văn Q (tên gọi khác là Vương Xuân Q) phạm tội "Cố ý gây thương tích".
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vương Văn Q (tên gọi khác là Vương Xuân Q) 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Q cho Uỷ ban nhân dân xã MT, huyện ns, tỉnh HD giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về án phí: Bị cáo Vương Văn Q phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./. Nơi nhận:
T.M Hội đồng xét xử sơ thẩm
- VKSD huyện ns;
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa
- VKS tỉnh HD
- Cơ quan CSĐT - CA huyện ns;
- Cơ quan THAHS – CA huyện;
- Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ CA huyện;
- Chi cục THADS huyện;
- Sở Tư pháp tỉnh HD;
Trịnh Cẩm Vân
- Bị cáo;
- Người bị hại;
- Lưu VP;
- Lưu hồ sơ vụ án
Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đắc Quýnh Nguyễn Thị Huệ
Trịnh Cẩm Vân
| Nơi nhận: - VKSD huyện ns; - VKS tỉnh HD - Cơ quan CSĐT - CA huyện ns; - Cơ quan THAHS – CA huyện; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ CA huyện; - Chi cục THADS huyện; - Sở Tư pháp tỉnh HD; - Bị cáo; - Người bị hại; - Lưu VP; - Lưu hồ sơ vụ án THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Thị Phương Nga Trần Thị Luận | T.M Hội đồng xét xử sơ thẩm Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Trịnh Cẩm Vân THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Điệp |