vanban.org

Bản án 02/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 05/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh K phạm “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh K 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh Kh - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh K phạm “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ XUYÊN
TỈNH SÓC TRĂNG
_________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2022/HS-ST
Ngày: 05/01/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ XUYÊN, TỈNH SÓC TRĂNG

,

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Mến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đào Đắc Cẩm Tú;

Ông Lâm Kim Mến.

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Văn Hải – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mỹ Xuyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Nhường – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 50/2022/HSST ngày 11 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2022/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2022 đối với:

- Bị cáo: Nguyễn Thanh K; Giới tính: Nam, sinh ngày 01/01/1989;

Tên gọi khác: Không, N sinh: huyện M, tỉnh Sóc Trăng;

Nơi thường trú: ấp V, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng;

Chỗ ở hiện tại: ấp V, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng.

Họ tên cha: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1969 (s);

Họ tên mẹ: Trần Thị P, sinh năm 1971 (s);

Anh, chị, em ruột có 02 người, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 1990.

Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/9/2022 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Trần Văn N1, sinh năm 1965 (có mặt).

Nơi cư trú: Ấp V, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng

- Người làm chứng: Ông Trần Văn C, sinh năm 1986 (có mặt).

Nơi cư trú: Ấp V, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Giữa Nguyễn Thanh K và ông Trần Văn N1 đã có mâu thuẫn với nhau từ trước về việc ông N1 chăn nuôi bò nhưng để bò đi qua ruộng và ăn cây trồng của K. Vào khoảng 21 giờ ngày 27/4/2022, sau khi đã có uống rượu thì K từ chòi nuôi tôm cầm dao qua chòi ông N1 để tìm và nói chuyện về mâu thuẫn trước đó nhưng ông N1 không mở cửa nên K cầm dao chém vào cửa chòi và bỏ đi về chòi của K ngủ (chém nhưng không để lại thiệt hại). Đến khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 28/4/2022, ông N1 đang ở chòi nuôi tôm thì nhớ lại chuyện bị K cầm dao qua chòi tôm của ông N1 gây chuyện vào tối ngày 27/4/2022 nên ông N1 gọi điện cho con ông tên Trần Văn C để cùng đi qua tìm Khen nói chuyện. Khi thấy C chạy xe gần qua đến chòi thì ông N1 đi qua chòi tìm Khen trước. Lúc này, K đang nằm võng trong chòi, khi thấy ông N1 qua thì giữa K và ông N1 xảy ra cự cãi xô xát, K mới ngồi dậy lấy cây len (xẻng) dựng ở vách chòi cầm bằng hai tay xắn về hướng ông N1 khoảng 02 đến 03 cái. Thấy vậy, ông N1 đưa tay lên đỡ thì lưỡi cây len (xẻng) trúng vào đốt 1 ngón 4, đốt 1 ngón 5 bàn tay phải làm ông N1 bị thương. Khi đó, Trần Văn C vừa đi đến nên can ngăn và đưa ông N1 đến Trạm Y tế xã G, huyện M băng bó vết thương và điều trị. Sau khi sự việc xảy ra thì ông Trần Văn N1 có đơn yêu cầu xử lý hành vi của Nguyễn Thanh K gây thương tích cho ông.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 322/TgT-PY ngày 28/7/2022, của Trung tâm Pháp y tỉnh S kết luận: Tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tính theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y đối với Trần Văn N1 hiện tại là 02% (Hai phần trăm); Tổn thương ngón 4, ngón 5 tay phải có đặc điểm do vật sắc gây nên.

Tại bản cáo trạng số 53/CT-VKSMX ngày 09/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh K về “Tội cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh K thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội là vào ngày 28/4/2022, bị cáo đã dùng cây len (xẻng) dựng ở vách chòi cầm bằng hai tay xắn về hướng ông N1 khoảng 02 đến 03 cái, trúng vào đốt 1 ngón 4, đốt 1 ngón 5 bàn tay phải làm ông N1 bị thương.

Tại phiên tòa, bị hại ông Trần Văn N1 yêu cầu xử lý hành vi của Nguyễn Thanh K gây thương tích cho ông. Về trách nhiệm dân sự không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cáo trạng số 53/CT-VKSMX ngày 09/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên và đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh K từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên đề nghị không xem xét.

Về vật chứng: Đề nghị điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy đối với công cụ phạm tội và vật chứng không còn giá trị sử dụng gồm: 01 (một) cây len (cây xẻng) có tổng chiều dài 107cm, phần cán bằng gỗ dài 81cm, phần lưỡi bằng kim loại màu đen, dài 26cm, rộng 15,5cm; trên lưỡi có dính chất dịch màu nâu đỏ đã khô.

Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo nộp tiền án hình sự sơ thẩm theo quy định.

Trong phần lời nói sau cùng: Bị cáo không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh K thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội là vào ngày 28/4/2022, bị cáo đã dùng cây len (xẻng) dựng ở vách chòi cầm bằng hai tay xắn về hướng ông N1 khoảng 02 đến 03 cái, trúng vào đốt 1 ngón 4, đốt 1 ngón 5 bàn tay phải làm ông N1 bị thương.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 322/TgT-PY ngày 28/7/2022, của Trung tâm Pháp y tỉnh S kết luận: Tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tính theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y đối với Trần Văn N1 hiện tại là 02% (Hai phần trăm); Tổn thương ngón 4, ngón 5 tay phải có đặc điểm do vật sắc gây nên.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra, phù hợp với kết luận giám định pháp y về thương tích cùng các tài liệu, chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự nên Cáo trạng 53/CT-VKSMX ngày 09/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh K về “Tội cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét về hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đủ năng lực hành vi, nhận thức được sức khỏe con người được pháp luật bảo vệ nhưng bị cáo đã dùng cây len, có tổng chiều dài 107cm, phần cán bằng gỗ dài 81cm, phần lưỡi bằng kim loại màu đen, dài 26cm, rộng 15,5cm, là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại. Tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 2% (dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp dùng hung khí nguy hiểm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự). Do đó, đối với bị cáo cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật, nhằm để răn đe, giáo dục và phòng chống tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thanh K không phạm vào các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy, Trước khi phạm tội Nguyễn Thanh K có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội và trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có ông ngoại tên Trần Văn T, bà ngoại tên Hứa Thị C1 có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, có cậu tên Trần Văn C2 là liệt sĩ. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo trong lúc lượng hình.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Văn N1 không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy đối với công cụ phạm tội và vật chứng không còn giá trị sử dụng gồm: 01 (một) cây len (cây xẻng) có tổng chiều dài 107cm, phần cán bằng gỗ dài 81cm, phần lưỡi bằng kim loại màu đen, dài 26cm, rộng 15,5cm; trên lưỡi có dính chất dịch màu nâu đỏ đã khô.

Lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh K là người bị kết án nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bô luật Tố tụng hình sự:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh K phạm “Cố ý gây thương tích”.

Tuyên xử:

1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh K 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy đối với công cụ phạm tội và vật chứng không còn giá trị sử dụng gồm: 01 (một) cây len (cây xẻng) có tổng chiều dài 107cm, phần cán bằng gỗ dài 81cm, phần lưỡi bằng kim loại màu đen, dài 26cm, rộng 15,5cm; trên lưỡi có dính chất dịch màu nâu đỏ đã khô.

(Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng đang quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24 tháng 11 năm 2022).

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh K phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên.

5. Về việc kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

6. Về việc thi hành án: Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ