vanban.org

Bản án 02/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kon Rẫy , tỉnh Kon Tum Tuyên án 17/02/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân Kh phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Kh 11 (Mười một) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo tạm giữ, tạm giam ngày 03 tháng 10 năm 2021. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Điều 21; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân Kh phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân Kh phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KON RẪY
TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:02 /2022/HS-ST
Ngày: 17-02-2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KON RẪY - TỈNH KON TUM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đồng Thị Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đinh Thị Thuận

Bà Y H Liêu

- Thư ký phiên tòa: Ông A Thống - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tùng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 02 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kon Rẫy tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2021/TLST- HS, ngày 20 tháng 12 năm 2021 (chuyển sang thụ lý mới số 02/2021/TLST- HS, ngày 04 tháng 01 năm 2022), theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2022/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa, đối với bị cáo:

Nguyễn Xuân Kh; Tên gọi khác: Kh Sơn; Giới tính: Nam; Sinh ngày 10 tháng 12 năm 1990, tại tỉnh Kon Tum; Nơi cư trú: Số 354 Sư Vạn Hạnh, phường Duy T, thành phố K, tỉnh Kon Tum; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Thợ sơn; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Nguyễn Trận, và bà Đỗ Thị Mỹ, hiện mẹ bị cáo hiện đang sinh sống và làm nông tại thôn Kon Tu 2, phường Trường Ch, thành phố K, tỉnh Kon Tum; Gia đình bị cáo có 04 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 2005. Bị cáo là con thứ 02 trong gia đình; Bị cáo có vợ tên Lê Thị Thúy H, sinh năm 1986 và có 02 người con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2014. Vợ, con bi cáo hiện đang sinh sống và buôn bán tại tổ 02, phường Duy T, thành phố K, tỉnh Kon Tum.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân:

- Ngày 09/02/2015, bị cáo bị TAND thành phố K, tỉnh Kon Tum xử phạt 03 tháng 26 ngày tù về tội: “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1, Điều 257 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Bị cáo đã được xóa án tích.

- Ngày 04/8/2016, bị cáo bị TAND thành phố K, tỉnh Kon Tum xử phạt 15 tháng tù về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2, Điều 104 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Bị cáo đã được xóa án tích .

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 03 tháng 10 năm 2021 tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Kon Rẫy cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

+ Anh Đỗ Dũng S, sinh năm 1989 và chị Tạ Thị Thu T, sinh năm 1988. Địa chỉ: Thôn 02, xã Tân L, huyện Kon R, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

+ Công ty TNHH MTV Gia Q – Người đại diện theo pháp luật ông Trần Đình Ph – Giám đốc. Địa chỉ: Thôn Plei Rơ 2, phường Lê L, thành phố K, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Hoàng Thị Ch, sinh năm 1962. Địa chỉ: 325 Phan Đình Ph, phường Duy T, thành phố K, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

+ Anh Tạ Hồng H, sinh năm 1989. Địa chỉ: 325 Phan Đình Ph, phường Duy T, thành phố K, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

- Những người làm chứng:

+ Anh Nguyễn Huy Th, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn 02, xã Tân L, huyện Kon R, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

+ Anh Phạm Ngọc T, sinh năm 1992. Địa chỉ: Thôn 02, xã Tân L, huyện Kon R, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

+ Anh Mai Đức Th, sinh năm 1998. Địa chỉ: Thôn 03, xã Tân L, huyện Kon R, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

+ Anh Châu Vĩnh Q, sinh năm 1972. Địa chỉ: Thôn 3 xã Đắk L, huyện Đắk H, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

+ Anh A N, sinh năm 1985. Địa chỉ: Thôn 4 xã Đắk L, huyện Đắk H, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

+Bà Chu Thị H, phụ trách Phòng khám đa khoa khu vực thị trấn Đắk Rve, huyện Kon R, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào 23 giờ 30 phút, ngày 02 tháng 10 năm 2021, Nguyễn Xuân Kh hỏi mượn chiếc xe mô tô BKS 82K7-1969 của anh Tạ Hồng H (SN: 07/02/1989; Trú tại: 325 Phan Đình Ph, thành phố Kon T) để đi chơi với người yêu thì được anh Hưng đồng ý. Sau đó, Kh điều khiển xe mô tô trên đi từ thành phố Kon Tum lên huyện Kon Rẫy. Đến khoảng 01 giờ ngày 03 tháng 10 năm 2021, Kh đi đến địa phận thị trấn Đắk Rve, huyện Kon Rẫy. Khi Kh đi đến Phòng khám đa khoa khu vực thị trấn Đắk Rve tại thôn 01, thị trấn Đắk Rve, huyện Kon Rẫy thì Kh thấy bên trong khuôn viên Phòng khám đa khoa khu vực thị trấn Đắk Rve có công trình đang xây dựng đang bật điện sáng. Lúc này, Kh nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Kh đi vào bên trong công trình xây dựng của Phòng khám, rồi trộm cắp 01 cuộn sắt phi 6 nặng 56 kg của Công ty TNHH MTV Gia Quân Kon Tum do ông Trần Đình Ph (SN: 25/10/1981; Trú tại: Thôn Plei Rơ 2, phường Lê Lợi, thành phố Kon Tum) là người đại diện theo pháp luật đang thi công công trình tại Phòng khám đa khoa khu vực thị trấn Đắk Rve. Sau đó, Kh điều khiển xe mô tô chở theo cuộn sắt vừa mới trộm cắp được đi về hướng thành phố Kon Tum. Khi về đến thôn 02, xã Tân Lập, huyện Kon Rẫy, Kh nhìn thấy nhà ông Đỗ Dũng S đang xây dựng, không có cổng nên Kh dựng xe ở ngoài đường, rồi đi vào bên trong khuôn viên nhà ông S. Khi vào nhà ông S, Kh nhìn thấy có treo nhiều lồng chim cảnh, rồi Kh đã trộm cắp 01 lồng chim, bên trong có 01 con chim Khứu bạc má của gia đình ông S và mang ra ngoài chỗ để xe mô tô. Lúc này, ông S nghe thấy tiếng động nên đi ra ngoài kiểm tra thì phát hiện ra Kh đang cầm lồng chim trên tay, bên trong có 01 con chim Khướu bạc má của gia đình mình. Thấy vậy, ông S truy hô và đuổi theo Kh, rồi cùng với người dân và Tổ tuần tra Công an huyện Kon Rẫy bắt quả tang Kh đang có hành vi trộm cắp tài sản.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 16/KLĐGTS, ngày 07/10/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Kon Rẫy, kết luận: 01 con chim Khướu bạc má có giá trị xác định là 2.333.333 đồng; 01 lồng chim được làm bằng tre có giá trị xác định là 328.125 đồng và 01 cuộn sắt phi 6 nặng 56 kg có giá trị xác định là 1.064.000 đồng. Tổng giá trị thiệt hại của các tài sản trên là 3.725.458 đồng (ba triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn bốn trăm năm mươi tám đồng).

Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT- Công an huyện Kon Rẫy đã tạm giữ những vật chứng như sau: 01 xe mô tô BKS 82K7-1969, nhãn hiệu Honda Future neo, màu xanh đen, số khung RLHJC35077Y000594, số máy JC35E-0128659, xe cũ đã qua sử dụng; 01 cuộn sắt loại phi 6, nặng 56 kg, còn mới chưa qua sử dụng; 01 lồng chim được làm bằng tre, nứa cao 74 cm, chu vi 1m; 01 con chim, loại chim Khướu bạc má. Sau khi điều tra làm rõ vụ án, Cơ quan CSĐT – Công an huyện Kon Rẫy đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp các vật chứng nói trên.

Tại bản cáo trạng số 01/CT-VKS ngày 20/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kon Rẫy truy tố bị cáo Nguyễn Xuân Kh về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố 01/CT-VKS ngày 20/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Kh mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: Không yêu cầu, nên không đề nghị xem xét.

Về vật chứng: Các vật chứng đã được trả lại cho các chủ sở hữu hơp pháp , nên không đề nghị xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và thống nhất bản luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo không có khiếu nại gì đối với kết luận định giá, không có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, giữ nguyên lời khai tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Kon Rẫy, không có ý kiến gì thêm.

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ căn cứ để kết luận: Vào khoảng 01 giờ sáng ngày 03/10/2021, lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của người dân trên địa bàn huyện Kon Rẫy, bị cáo Nguyễn Xuân Kh đã lén lút lấy trộm 01 cuộn sắt phi 6 nặng 56 kg có giá trị xác định là 1.064.000 đồng của Công ty TNHH MTV Gia Quân Kon Tum đang thi công công trình tại Phòng khám đa khoa khu vực thị trấn Đắk Rve; 01 con chim Khướu bạc má có giá trị xác định là 2.333.333 đồng và 01 lồng chim được làm bằng tre có giá trị xác định là 328.125 đồng của gia đình ông Đỗ Dũng S ở thôn 02, xã Tân Lập, huyện Kon Rẫy.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 16/KLĐGTS, ngày 07/10/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Kon Rẫy, kết luận: 01 con chim Khướu bạc má có giá trị xác định là 2.333.333 đồng; 01 lồng chim được làm bằng tre có giá trị xác định là 328.125 đồng và 01 cuộn sắt phi 6 nặng 56 kg có giá trị xác định là 1.064.000 đồng. Tổng giá trị thiệt hại của các tài sản trên là 3.725.458 đồng (ba triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn bốn trăm năm mươi tám đồng).

Như vậy, bị cáo đã có hành vi lợi dụng lúc Công ty TNHH MTV Gia Quân Kon Tum đang thi công công trình tại Phòng khám đa khoa khu vực thị trấn Đắk Rve không có người trông coi vào đêm khuya, bị cáo đã lấy trộm 01 cuộn sắt phi 6 nặng 56 kg và lợi dụng lúc gia đình anh Đỗ Dũng S đang ngủ, bị cáo đã lén lút lấy trộm 01 con chim Khướu bạc má và 01 lồng chim được làm bằng tre. Tổng giá trị thiệt hại của các tài sản trên do bị cáo trộm cắp được có giá trị 3.725.458 đồng (ba triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn bốn trăm năm mươi tám đồng). Do đó, Cáo trạng số 01/CT-VKS ngày 20/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum truy tố bị cáo Nguyễn Xuân Kh về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, ngoài ra còn làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn, gây lo lắng cho quần chúng nhân dân. Do đó cần xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và hậu quả bị cáo đã gây ra; cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống chung của xã hội một thời gian mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với người phạm tội và cũng nhằm phòng ngừa chung đối với xã hội, nhất là tội phạm xâm phạm đến sở hữu đang có chiều hướng ngày càng gia tăng như hiện nay.

[4]. Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

[4.1] Về nhân thân:

Ngày 09/02/2015, bị cáo bị TAND thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum xử phạt 03 tháng 26 ngày tù về tội: “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1, Điều 257 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Ngày 04/8/2016, bị cáo bị TAND thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum xử phạt 15 tháng tù về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2, Điều 104 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Cả hai bản án, bị cáo đã được xóa án tích.

Mặc dù bị cáo đã được xóa án tích đối với các bản án trên, nhưng bị cáo là người có nhân thân xấu. Qua các lần bị xét xử, bị cáo không lấy đó để làm bài học tránh xa việc phạm cho bản thân, mà bị cáo còn tiếp tục phạm tội, thể hiện việc khó cải tạo đối với bị cáo.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo được hưởng khi lượng hình.

[4.3]. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[5]. Đối với hành vi của anh Tạ Hồng H, bà Hoàng Thị Ch là người cho bị cáo Nguyễn Xuân Kh mượn chiếc xe mô tô BKS 82K7-1969, nhưng anh H, bà Ch không biết việc bị cáo sử dụng xe vào việc thực hiện hành vi phạm tội và cũng không bàn bạc gì với bị cáo Kh về việc sử dụng xe mô tô này để thực hiện việc trộm cắp tài sản. Do vậy, Cơ quan điều tra không để cập xử lý đối với anh Tạ Hồng H, bà Ch là có căn cứ và đúng quy định pháp luật, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]. Về vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã tạm giữ: 01 xe mô tô BKS 82K7-1969, nhãn hiệu Honda Future neo, màu xanh đen, số khung RLHJC35077Y000594, số máy JC35E-0128659, xe cũ đã qua sử dụng; 01 cuộn sắt loại phi 6, nặng 56 kg, còn mới chưa qua sử dụng; 01 lồng chim được làm bằng tre, nứa cao 74 cm, chu vi 1m; 01 con chim, loại chim Khướu bạc má. Sau khi điều tra làm rõ vụ án, Cơ quan CSĐT – Công an huyện Kon Rẫy đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp các vật chứng nói trên. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường gì. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân Kh phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Kh 11 (Mười một) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo tạm giữ, tạm giam ngày 03 tháng 10 năm 2021.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Điều 21; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí tòa án.

Bị cáo Nguyễn Xuân Kh phải chịu 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này để xin xét xử theo trình tự phúc thẩm. Riêng đối với các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ