- Tranh chấp gì? án hình sự — "Rmah T phạm tội “Sản xuất phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” - phạm tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc m…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Rmah T phạm tội Sản xuất phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 1 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử tịch thu
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PƯH TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2022/HS-ST Ngày 12 tháng 01 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C , TỈNH G
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hồ Hoàng Liêu
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Chu Xuân Toàn,
Bà Mai Thị Thanh Hằng,
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thùy, thư ký Tòa án nhân dân huyện C , tỉnh G .
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C , tỉnh G tham gia phiên toà: Ông Đặng Văn Niên, Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 01 năm 2022 tại Tòa án nhân dân huyện C , tỉnh G xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2020/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2022/HSST-QĐ ngày 04 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:
Rmah T , sinh ngày 30/10/1999 tại huyện C , tỉnh G .
Nơi cư trú: Thôn A, xã C on, huyện C , tỉnh G .
Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Jrai; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Tin lành; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Rcom P , sinh năm 1970 và bà Rmah H , sinh năm 1968. Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, Tiền sự: Không..
Bị cáo bị bắt quả táng, tạm giữ ngày 31/7/2021, tạm giam ngày 03/8/2021. Có mặt
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Thái Quốc Toản – Luật sư cộng tác viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Gia Lai. Có mặt
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Siu N , sinh năm 1999, Trú tại: Thôn A, xã C on, huyện C , tỉnh G . Có mặt
2. Kpuih Al (Kpuih Tơ L), sinh năm 1998, Trú tại: Thôn Plei Thơ Ga B, xã Chư Don, huyện C , tỉnh G . Vắng mặt
3. Rcom P (Blom), sinh năm 1999, Trú tại: Thôn Plei Thơ Ga B, xã Chư Don, huyện C , tỉnh G . Vắng mặt
4. Ông Kpă Anel, sinh năm 1970 và bà Rmah H’ , sinh năm 1968, Trú tại: Thôn A, xã C on, huyện C , tỉnh G . Có mặt
- Người tham gia tố tụng khác:
+ Người phiên dịch: Ông Siu Thun Phrâo - dân tộc Jrai. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 10 gi 1 phút ngày 31/7/2021 tại thôn A, xã C , huyện C , tỉnh G , Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã bắt quả tang đối với Rmah T về hành vi tàng trữ dụng cụ, phương tiện dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma tuý. Khám xét trong quá trình bắt quả tang, Công an đã thu giữ các vật chứng gồm:
- Năm bình ga mini (Hai bình loại Ikura, một bình loại Bluestar, một bình loại Oga a, một bình loại Peace orl), trong đó có 04 bình ga đã sử dụng hết khí ga.
- Một đ u khò màu đen kích thước (17x6)cm.
- Một con dao thái lan cán màu vàng, lư i bằng kim loại, dài 21cm.
- Một cục đá mài kích thước (9x , )cm.
- Một chiếc kìm màu đ đen, kích thước (18x6)cm.
- Một tua vít màu đen dài 31cm.
- Một chiếc kéo màu xanh dài 16cm.
- Một chiếc kéo màu vàng dài 13cm.
- Một chiếc đ a g dài 24cm.
- Một chiếc bật lửa màu xanh.
- Ba thanh kim loại đuôi gắn nhựa silicon màu hồng trong đó có một thanh dài 18cm, một thanh dài 11cm, một thanh dài 10cm.
- Một thanh kim loại dài 13cm, đuôi gắn nhựa màu đen.
- Mư i ống thu tinh màu trắng, m i ống dài 20cm, đư ng kính m i ống 0,5cm.
- Một ống thu tinh dài 11cm.
- Một ống thu tinh dài 15,5cm.
- Hai chiếc cóng bằng thu tinh.
- Một chiếc cóng bằng thu tinh được gắn trong một chai nhựa có nắp màu đ , trên nắp có gắn một ống nhựa màu đen, chiều dài chai nhựa 16cm.
- Một điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh.
Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Rmah T ở thôn A, xã C on, huyện C , tỉnh G . Quá trình khám xét đã thu giữ:
- Một lọ nhựa nắp màu vàng đã được đục hai l dài 09cm.
- Một con dao rọc giấy dài 11cm.
- Một nắp nhựa màu đ đã được đục hai l , một l được gắn ống nhựa màu đen dài 06cm.
- Hai ống nhựa màu đen, một ống dài 12cm, một ống dài 07cm.
- Một chiếc bật lửa màu đen.
Quá trình điều tra xác minh đã xác định: Để có tiền tiêu xài cá nhân và có dụng cụ sử dụng ma tuý đá nên Rmah T đã nảy sinh ý định mua ống thu tinh về để chế tạo, làm ra những chiếc cóng (Dụng cụ phục vụ cho việc sử dụng ma tuý đá) bán lại cho ngư i sử dụng ma tuý đá để kiếm l i. Do đó, ngày 2 /7/2021, T sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh của mình truy cập mạng xã hội acebook, vào địa chỉ POLO (Không xác định được địa chỉ cụ thể) để đặt mua 20 ống thu tinh (Chiều dài m i ống là 20cm, đư ng kính m i ống là 0, cm) với số tiền 120.000đ (Một trăm hai mươi nghìn đồng). Đến khoảng 14 gi ngày 29/7/2021, có một ngư i phụ nữ làm nghề giao nhận hàng đã giao cho T một hộp giấy cạc tông bên trong có chứa 20 ống thu tinh mà T đã đặt qua mạng xã hội trước đó. Sau khi nhận được ống thu tinh, T ra chợ Phú Nhơn thuộc thị trấn Nhơn Hoà, huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai mua 0 (Năm) bình ga mini và một đ u khò mang về phòng ngủ của mình. Ngoài ra, T còn chuẩn bị một số công cụ cho việc chế tạo cóng như: D a, hộp qu t, kìm, dao, tua vít, kéo, đ a, ống nhựa... Khi chuẩn bị xong, Rmah T ở trong phòng ngủ của mình, đóng cửa và chốt khoá cửa phòng lại. Tại đây, Rmah T sử dụng chiếc điện thoại di động nói trên vào kênh Youtube (Bị can không nhớ trang cụ thể đã truy cập) để xem hướng d n cách chế tạo dụng cụ cóng để sử dụng ma túy đá, v a xem hướng d n v a thực hiện theo. Trong chiều ngày 29/7/2021, T đã sử dụng hết 10 (Mư i) ống thu tinh và 04 (Bốn) bình ga mini để chế tạo được t ng cộng 07 (Bảy) chiếc cóng, 03 (Ba) ống thủy tinh trong quá trình chế tạo đã bị bể v . Đối với 07 (Bảy) chiếc cóng và 10 (Mư i) ống thủy tinh còn lại thì Rmah T đã cất giấu trong phòng ngủ của T. Chiều ngày 30/7/2021, Rmah T l n lượt bán cho Siu Ngót và Kpuih Al (Tên gọi khác: Kpuih Tơ Leng) m i ngư i một chiếc cóng với số tiền m i chiếc cóng là 0.000đ (Năm mươi nghìn đồng). Do Siu Ngót và Kpuih Al chưa có tiền nên Rmah T bán nợ, khi nào có tiền s trả sau. Ngoài ra, tối ngày 30/7/2021, Rmah T còn cho Rcom P (Tên gọi khác: Blom) 02 (Hai) chiếc cóng để Phao sử dụng ma tuý đá. 03 (Ba) chiếc cóng còn lại (Trong đó có một chiếc cóng đã được T gắn vào chai nhựa) thì T cất giấu trong phòng ngủ tại nhà ở của mình nhằm mục đích bán cho ngư i sử dụng trái phép chất ma tuý nhưng chưa bán được thì bị phát hiện bắt quả tang.
Về vật chứng vụ án:
- Vật chứng thu giữ trong quá trình bắt quả tang và khám xét; Vật chứng do Rcom P giao nộp cho Cơ quan CSĐT Công an huyện C vào ngày 01/8/2021: Một chiếc cóng bằng thu tinh.
Đối với các vật chứng trên, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện C để quản lý, bảo quản và thi hành theo bản án.
Tại bản cáo trạng số: 28/CT-VKS ngày 04 tháng 11 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C , tỉnh G đã truy tố bị cáo Rmah T về tội Sản xuất phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 2 4 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C , tỉnh G giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Rmah T về tội Sản xuất phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”, Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 254; điểm s khoản 1 và 2 Điều 1 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Rmah T t 12 tháng đến 15 tháng tù. Th i hạn chấp hành hình phạt tù tính t ngày bị cáo bị bắt.
Về hình phạt b sung: Miễn hình phạt b sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử tịch thu, tiêu hủy: 0 bình ga mini, trong đó có 04 bình ga đã sử dụng hết khí ga; 01 đ u khò; 01 con dao thái lan; 01 cục đá mài; 01 chiếc kìm; một tua vít; 02 chiếc kéo; 01 chiếc đ a g ; 02 chiếc bật lửa; 04 thanh kim loại; 12 ống thu tinh; 04 chiếc cóng bằng thu tinh; 01 lọ nhựa; 01 con dao rọc giấy; 01 nắp nhựa; 02 ống nhựa là vậy chứng không có giá trị; Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: một điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Ngư i bào chữa cho bị cáo thống nhất với tội danh và các tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng. Tuy nhiên trong quá trình điều tra bị cáo rất tích cực hợp tác với cơ quan điều tra, khai nhận bị cáo có mua ma túy của Đinh Thị Hồng Nhi để sử dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án quy đinh lại điểm t khoản 1 Điều 1 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Xét bị cáo là ngư i dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, có nhiều tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 4 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo với mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng.
Đại diện Viện kiểm sát giữa nguyên quan điểm của mình, cho rằng: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai là có mua ma túy do chị Đinh Thị Hồng Nhi bán, khi giao dịch mua bán chỉ có bị cáo và chị Nhi, không có ai biết. Quá trình điều tra xác định chưa có cơ sở chứng minh chị Nhi là ngư i bán ma tuy đá cho bị cáo sử dụng. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh khi có đủ chứng cứ s xử lý sau. Do vậy, ngư i bào chữa cho rằng c n áp dụng tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án theo điểm t khoản 1 Điều 1 Bộ luật hình sự đối với bị cáo là không có căn cứ.
Ngư i bào chữa cho bị cáo v n giữ nguyên quan điểm của mình và không có ý kiến tranh luật gì thêm.
Bị cáo nói l i nói sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối l i về việc làm vi phạm pháp luật của mình; đề nghị Hội đồng xét xử giảm nh hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chư Pưh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C , tỉnh G , Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa l i khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt ngư i phạm tội quả tang, những chứng cứ, tài liệu thu thập được có tại hồ sơ vụ án c ng như l i trình bày của những ngư i tham gia tố tụng khác có mặt tại phiên tòa.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Vào ngày 25/7/2021, Rmah T đã một mình liên hệ qua mạng xã hội với ngư i khác để mua các vật liệu và học cách chế tạo ra phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy. Trong ngày 29/7/2021, một mình T đã chế tạo ra t ng cộng 07 (Bảy) chiếc cóng (Là phương tiện, dụng cụ để sử dụng ma túy đá) bán lại cho ngư i sử dụng ma tuý đá để kiếm l i. T đã bán nợ cho Siu N và Kpuih Tơ Leng m i ngư i một chiếc cóng với số tiền m i chiếc cóng là 0.000đ (Năm mươi nghìn đồng), T cho bạn mình là Rcom P 02 (Hai) chiếc cóng, số còn lại chưa kịp bán thì bị phát hiện thu giữ. Hành vi đó của bị cáo Rmah T đã phạm vào tội Sản xuất phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 2 4 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện C , tỉnh G đã truy tố là có căn cứ đúng ngư i, đúng tội.
Về tính chất, vai trò, nhân thân; các tình tiết giảm nh , tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến những quy định của Nhà nước trong việc sản xuất, quản lý, sử dụng các chất ma túy; ngoài ra còn xâm hại đến trật tự trị an xã hội ở địa phương, nếp sống văn minh và ma túy là một tệ nạn nguy hiểm bị qu n chúng nhân dân và dư luận xã hội lên án, c n phải được nghiêm trị, loại ra kh i đ i sống xã hội; gia đình phải ly tán vì tệ nạn ma túy, sử dụng tiêm chích ma túy c ng là nguyên nhân d n đến căn bệnh thế k vô cùng nguy hiểm AIDS mà hiện nay trên thế giới chưa có thuốc chữa trị hữu hiệu. Hiện nay, tội phạm ma túy và Sản xuất phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy ngày càng gia tăng, phương thức, thủ đoạn hoạt động ngày càng phức tạp, tinh vi, thể hiện dưới nhiều hình thức, phương thức khác nhau, mang tính toàn c u và trở thành hiểm họa chung cho nhân loại. Do vậy, c n phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra kh i đ i sống xã hội mới có tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ng a chung cho xã hội.
Tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự:
Hội đồng xét xử xét thấy tại phiên toà c ng như quá trình điều tra vụ án, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là ngư i dân tộc thiểu số, học vấn thấp, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, bị cáo có ông nội là liệt sỹ; Do đó c n áp dụng tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật hình sự khi lượng hình phạt đối với bị cáo. Bị cáo không phải là ngư i tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án. Do vậy, yêu c u của ngư i bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1 Điều 1 Bộ luật hình sự đối với bị cáo và xử phạt bị cáo với mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là không có căn cứ chấp nhận.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Đối với Siu N và Kpuih ALing: Quá trình điều tra, Siu N và Kpuih Al khai đã nhiều l n sử dụng trái phép chất ma tuý đá. Ngày 30/7/2021, Siu N và Kpuih Al mua của Rmah T m i ngư i một chiếc cóng nhằm mục đích để sử dụng trái phép chất ma tuý đá. Vì vậy, ngày 29/9/2021, Công an huyện C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) đối với Siu N và Kpuih Al về hành vi Mua dụng cụ sử dụng chất ma tuý trái quy định của pháp luật được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 21 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính Phủ là đúng pháp luật. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Siu N và Kpuih Aling, Công an huyện C đang xem xét lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định.
Đối với địa chỉ POLO trên mạng xã hội acebook mà Rmah T đã đặt mua 20 ống thu tinh: T khai nhận không giao dịch trực tiếp với ngư i bán và không r địa chỉ ở đâu. Cơ quan CSĐT Công an huyện C tiếp tục xác minh, làm r , xử lý sau theo quy định của pháp luật.
Đối với ngư i phụ nữ không r lai lịch đã giao hàng (Ống thu tinh) cho Rmah T vào chiều ngày 29/7/2021: Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được. Cơ quan CSĐT Công an huyện C tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, trong quá trình điều tra, Rmah T khai nhận đã nhiều l n (Khoảng 0 – 06 l n) mua ma túy của Đinh Thị Hồng Nhi (trú tại: Thôn Hoà Tín, thị trấn Nhơn Hoà, huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai) để sử dụng. M i l n mua, T gọi điện thoại di động vào số thuê bao di động 086 276778 hoặc gọi qua ứng dụng messenger của tài khoản mạng xã hội acebook mang tên Đinh Hạ Vy (Có hình đại diện của Nhi) để mua ma tuý. Tuy nhiên, quá trình làm việc, đối tượng Nhi phủ nhận việc bán ma tuý cho Rmah T . Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã tiến hành đối chất giữa Rmah T và Đinh Thị Hồng Nhi nhưng v n chưa có kết quả. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện C s tiếp tục thu thập tài liệu, chứng cứ về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của Đinh Thị Hồng Nhi. Khi đủ chứng cứ, tài liệu, Cơ quan CSĐT Công an huyện C s tiến hành xử lý theo quy định của pháp luật.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử tịch thu, tiêu hủy: 05 bình ga mini, trong đó có 04 bình ga đã sử dụng hết khí ga; 01 đ u khò; 01 con dao thái lan; 01 cục đá mài; 01 chiếc kìm; một tua vít; 02 chiếc kéo; 01 chiếc đ a g ; 02 chiếc bật lửa; 04 thanh kim loại; 12 ống thu tinh; 04 chiếc cóng bằng thu tinh; 01 lọ nhựa; 01 con dao rọc giấy; 01 nắp nhựa; 02 ống nhựa là vậy chứng không có giá trị; Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: một điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh.
Về hình phạt b sung: Xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có thu nhập n định, nên miễn hình phạt b sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Rmah T phạm tội Sản xuất phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 254; điểm s khoản 1 và 2 Điều 1 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Rmah T : 12 (Mư i hai) tháng tù. Th i hạn chấp hành án hình phạt tù tính t ngày bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ (ngày 31/7/2021).
2. Về hình phạt b sung: Miễn xét.
3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử tịch thu, tiêu hủy: 0 bình ga mini, trong đó có 04 bình ga đã sử dụng hết khí ga; 01 đ u khò; 01 con dao thái lan; 01 cục đá mài; 01 chiếc kìm; một tua vít; 02 chiếc kéo; 01 chiếc đ a g ; 02 chiếc bật lửa; 04 thanh kim loại; 12 ống thu tinh; 04 chiếc cóng bằng thu tinh; 01 lọ nhựa; 01 con dao rọc giấy; 01 nắp nhựa; 02 ống nhựa; Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước một điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh; Đặc điểm nhận dạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 04/11/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện C , tỉnh G .
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ quốc hội. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào công quỹ nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Trong th i hạn 1 ngày kể t ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án; ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo ph n bản án có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình lên Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu c u xét xử phúc thẩm; Những ngư i vắng mặt có quyền kháng cáo kể t ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Ngư i bào chữa; - Ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - TAND tỉnh Gia Lai; - Viện kiểm sát tỉnh Gia Lai; - VKS huyện Chư Pưh; - Công an huyện Chư Pưh; - Chi Cục THS DS huyện Chư Pưh; - Sở tư pháp tỉnh Gia Lai; - Lưu HS. HỘI THẨM NHÂN DÂN Chu Xuân Toàn Mai Thị Thanh Hằng HỘI THẨM NHÂN DÂN Trần Đình Thi Mai Thị Thanh Hằng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán – Chủ tọa phiên tòa Hồ Hoàng Liêu THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Hoàng Liêu THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Hoàng Liêu |