vanban.org

Bản án 02/2022/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 06/01/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/01/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên ố bị cáo Mai Anh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Căn cứ

điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Mai Anh T 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Anh T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên ố bị cáo Mai Anh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Căn cứ
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

______________
Bản án số: 02/2022/HS-PT
Ngày: 06 - 01 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Cường

Các Thẩm phán:

Ông Lê Phước Thanh

Ông Đặng Kim Nhân

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Tuyết Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng: Ông Đặng Thọ Định

- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 06 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 514/2021/TLPT-HS ngày 01 tháng 11năm 2021 đối với ị cáo Mai Anh T về tội “Cố ý gây thương tích”.

Do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2021/HS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

Bị cáo: Mai Anh T, sinh ngày 10 tháng 11 năm 1991 tại Đà Nẵng; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: K168/3 đường L, phường T1, quận H, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Mai Văn H1 và con à Lê Thị Y; gia đình có 02 anh em, ị cáo là con đầu; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Những người tham gia tố tụng khác:

1. Bị hại: Anh D, sinh năm 1981; số hộ chiếu: HK 957205; quốc tịch: Canada; địa chỉ tại Việt Nam: Số 90 đường H2, phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng, có mặt.

2. Người phiên dịch: Anh Đặng Văn B, địa chỉ làm việc: Trung tâm Phục vụ Đối ngoại – Sở Ngoại vụ thành phố Đà Nẵng, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm, tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 15 tháng 01 năm 2021, anh D (sinh năm 1981; quốc

tịch: Canada; tạm trú tại số 90 đường H2, phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng) cùng với anh A (sinh năm 1991; quốc tịch: Thụy Điển; tạm trú tại K47/25B đường L1, quận T2, thành phố Đà Nẵng) và một người phụ nữ (không rõ lai lịch) đến quán MN tại địa chỉ số 26 – 28 đường Đ, quận H, thành phố Đà Nẵng để ăn uống. Lúc này, ở cùng trong quán có một àn khoảng 10 người đang tổ chức sinh nhật cho anh Diệp Cẩm P (sinh năm 1997; trú tại số 205 Trần Hưng Đạo, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng), trong đó có Mai Anh T, chị Trần Thị Hồng Th (sinh năm 1999; trú tại: K64/2 đường L2, thành phố Đà Nẵng), chị Nguyễn Thị Bảo C (sinh năm 2001; trú tại: 39 đường T3, thành phố Đà Nẵng), chị Nguyễn Thị Thảo Q (sinh năm 2001; tạm trú: 123 đường N2, thành phố Đà Nẵng), anh Trần Đức M2 (sinh năm 1993; nơi cư trú: Ấp 1, xã X, huyện X1, tỉnh Đồng Nai) và một số người bạn khác. Thấy vậy, anh D có mời ia chúc mừng àn tổ chức sinh nhật và có dùng những câu chửi thề bằng tiếng Anh cụ thể: “Fuck, Fucking Girl, Fucking Ass...” nhiều lần dẫn đến việc T bức xúc. Tiếp đến khoảng 23 giờ 25 phút cùng ngày, sau khi đi vệ sinh anh D đi ngang qua àn tổ chức sinh nhật nói trên thì thấy anh P bị mệt đang nằm trên ghế tại àn, anh D có hỏi thăm anh P và có những hành động nhảy múa trước mặt anh P nên Mai Anh T cầm ly thủy tinh dùng để uống bia tại àn (kích thước cao khoảng 10 – 15cm, miệng ly đường kính khoảng 06 – 08cm, đáy ly đường kính khoảng 05cm) bằng tay phải đánh 01 cái vào vùng mặt ên phải anh D gây thương tích. Thấy sự việc như vậy, mọi người xung quanh can ngăn rồi đưa anh D đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng. Hậu quả: Anh D bị vết thương hở vùng thái dương ên phải, khâu 20 mũi. Ngày 17/01/2021 anh D đến Công an phường T4 trình áo sự việc.

Tại Bản giám định số 38/TgT ngày 08/3/2021 của Trung tâm Pháp y thành

phố Đà Nẵng kết luận:

Thương tích: Vùng mặt (thái dương ên phải) sưng nề lan rộng; trên nền ở

vùng trán có vết thương hình chữ V, kích thước 10cm x 0,2cm; trên nền sưng nề ở khóe mắt có vết thương chưa cắt chỉ khâu, kích thước 2,5cm x 0,2cm; xung quanh các vết thương này có nhiều vết xước da đã lành nhạt màu.

Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của anh D hiện tại là 15%.

Vật gây thương tích: Các tổn thương trên là do ngoại lực tác động trực tiếp;

vật tác động phù hợp với vật tày có cạnh sức gây nên.

Ngày 18/01/2021 anh Lê Đình Quang (sinh năm 1995) quản lý quán nhậu

MN số 26 – 28 Đống Đa, quận H, thành phố Đà Nẵng giao nộp 01 đĩa DVD chứa dữ liệu điện tử liên quan đến việc một nam thanh niên mặc áo trắng dùng ly thủy tinh đánh vào người một nam thanh niên mặc áo đen vào tối ngày 15 tháng 01 năm 2021.

Về phần dân sự: Sau khi thực hiện hành vi đánh anh D, Mai Anh T chủ

động liên hệ bị hại D để bồi thường, khắc phục hậu quả do mình gây ra, nhưng ị hại từ chối gặp mặt. Quá trình điều tra Mai Anh T nộp 5.000.000đ ồi thường tiền điều trị thương tích cho anh D tại cơ quan điều tra.

Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2021/HS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã quyết định:

1. Tuyên ố bị cáo Mai Anh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;

khoản 1 Điều 54 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Mai Anh T 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 25/9/2021.

Giao bị cáo Mai Anh T về Uỷ an nhân dân phường T1, quận H, thành phố

Đà Nẵng để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa

vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên, thì Toà án có thể buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Ngoài ra, ản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 15/10/2021, bị hại D kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung: Đề nghị Tòa án phúc thẩm xét xử tăng hình phạt đối với bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị hại D ày giữ nguyên kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng phát iểu:

Về tố tụng: Kháng cáo của bị hại D là trong thời hạn luật định.

Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử ị cáo về tội “Cố ý gây thương

tích” theo điểm điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 là có căn cứ, đúng tội. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo Mai Anh T 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 25/9/2021 là phù hợp. Về trách nhiệm dân sự Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định tách giải quyết sau theo thủ tục dân sự khi có yêu cầu là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị hại D, giữ nguyên ản án sơ thẩm.

Bị hại D tranh tụng: Không đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm

sát. Hành vi phạm tội của bị cáo là có tính chất côn đồ, nếu tôi không được cấp cứu kịp thời thì có thể dẫn đến tử vong. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo tăng hình phạt bị cáo.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 07 tháng 10 năm 2021 ị hại D nhận được bản án sơ thẩm. Ngày 15/10/2021, bị hại D kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2021/HS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng. Như vậy, kháng cáo của bị hại là trong thời hạn luật định. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Xét kháng cáo của ị hại:

Về tội danh:

Tại phiên tòa xét xử phúc thẩm hôm nay, bị cáo Mai Anh T thành khẩn khai áo, nhận tội thể hiện: Khoảng 23 giờ 25 phút ngày 15 tháng 01 năm 2021, tại quán MN số 26-28 đường Đ, phường T4, quận H, thành phố Đà Nẵng, do bức xúc việc anh D có những lời nói khiếm nhã ằng tiếng Anh và nhảy múa chọc bạn Phương khi Phương đang nằm nghỉ do mệt. Từ đó, Mai Anh T cầm 01 ly thủy tinh đánh vào thái dương ên phải anh D quốc tịch Canađa. Hậu quả bị hại D bị tổn thương cơ thể 15%. Lời khai nhận tội của bị cáo Mai Anh T phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Nẵng điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Mai Anh T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

Về hình phạt:

Nguyên nhân xuất phát việc Mai Anh T đánh ị hại D là do bị hại D cầm ly bia mời nhóm của Mai Anh T và có những lời nói khiếm nhã ằng tiếng Anh như “Fuck, Fucking Girl, Fucking Ass” nhiều lần. Sau đó, ị hại D có hành động nhảy múa trước mặt Diệp Cẩm P là người trong nhóm của Mai Anh T đang mệt nằm nghỉ. Từ đó, Mai Anh T bức xúc đã thực hiện hành vi phạm tội. Hậu quả bị hại D bị tổn thương cơ thể 15% là do ị cáo Mai Anh T gây ra và phải chịu trách nhiệm. Sau khi phạm tội, bị cáo Mai Anh T đã chủ động và thiện chí gặp bị hại để xin lỗi và khắc phục bồi thường nhưng ị hại không gặp, do đó ị cáo đã nộp 5.000.000đ tại cơ quan điều tra Công an thành phố Đà Nẵng. Tuy nhiên, xét thấy trong vụ án này ị hại cũng có một phần lỗi. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá, nhận định và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo Mai Anh T tỏ ra thực sự ăn năn hối cải, có nơi cư trú rõ ràng, có việc làm ổn định và đại diện Viện kiểm sát hai cấp phát iểu đều đề nghị xử phạt tù ị cáo Mai Anh T cho hưởng án treo. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Mai Anh T 18 tháng tù cho hưởng án treo là có căn cứ và thỏa đáng. Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng phát iểu tại phiên tòa.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, không ai cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới. Bị hại D kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo là không có căn cứ để chấp nhận.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Mai Anh T không phải chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị hại D, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

2. Tuyên ố bị cáo Mai Anh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Căn cứ

điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Mai Anh T 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án

treo, thời gian thử thách là 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 25/9/2021.

Giao bị cáo về Uỷ an nhân dân phường T1, quận H, thành phố Đà Nẵng

đẻ giám sát giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa

vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên, thì Toà án có thể buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Mai Anh T không phải chịu.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Thành viên Hội đồng xét xử

Cỡ chữ