vanban.org

Bản án 02/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về hôn nhân và gia đình về ly hôn, nuôi con giữa nguyên đơn Vũ Thị Th và bị đơn Phạm Xuân V"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TAND HUYỆN THƯỜNG XUÂN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2022/HNGĐ - ST
Ngày 20 tháng 5 năm 2022
V/v: “Tranh chấp hôn nhân gia đình
về ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG XUÂN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Sỹ H; Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà: Lê Thị H; 2. Bà: Hà Thị H;

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình T – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Xuân tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Th - Kiểm sát viên;

Ngày 20 tháng 5 năm 2022. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân. Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa đã đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 81/2021/TLST – HNGĐ, ngày 08/10/2021 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình về ly hôn, nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2022/QĐXXST – HNGĐ, ngày 06 tháng 4 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2022/QĐST - HNGĐ ngày 25/4/2022 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Vũ Thị Th – sinh năm 1996(có mặt); Địa chỉ: Khu X, thị trấn TX, huyện TX, tỉnh Thanh Hóa.

2.Bị đơn: Phạm Xuân V – sinh năm 1992(vắng mặt không có lý do);

Địa chỉ: Khu X, thị trấn TX, huyện TX, tỉnh Thanh Hóa;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 18/8/2021 của chị Vũ Thị Th là nguyên đơn và bản tự khai của đương sự, các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án thể hiện:

* Về hôn nhân: Nguyên đơn Vũ Thị Th và bị đơn Phạm Xuân V, tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2015 và kết hôn với nhau vào năm 2017, trên cơ sở hôn nhân tự nguyện, tự do tìm hiểu, thật sự yêu thương nhau và không bị ai ép buộc được hai bên 2 gia đình đồng ý, tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn TX, huyện TX vào ngày 05/4/2017. Sau khi lấy nhau về vợ chồng chung sống hạnh phúc, năm 2021 thì tình cảm vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn tình cảm vợ chồng là do tính tình vợ chồng không hợp, quan điểm, suy nghĩ, cách sống của mỗi người là khác nhau, không thông cảm cho nhau nên không tìm thấy sự hòa hợp trong đời sống vợ chồng; nguyên đơn cho rằng bị đơn Phạm Xuân V sống không có trách nhiệm với gia đình, không tu trí làm ăn. Chị Th đã nhiều lần động viên, khuyên ngăn nhưng anh V vẫn không thay đổi. Mâu thuẫn tình cảm vợ chồng đã được 2 bên gia đình nhiều lần dàn xếp, hòa giải nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không cải thiện được.Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 8/2021 đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Hiện nay chị Th nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài. Tại phiên tòa nguyên đơn Vũ Thị Th vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa giải quyết cho chị được ly hôn với bị đơn Phạm Xuân V.

*Về con cái: Trong thời gian chung sống vợ chồng có 02 con chung, tên các cháu là Phạm Vũ An N – sinh ngày 26/9/2016 và cháu Phạm An Nh – sinh ngày 20/7/2019, nay ly hôn chị Th đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu An Nh; còn cháu An N giao cho anh V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung.

*Về tài sản và công nợ: Tài sản chung, tài sản riêng và công nợ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía bị đơn Phạm Xuân V sau khi nhận được thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập và thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải của Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân thì anh V không có ý kiến gì, cũng không đến Tòa án để làm việc theo giấy triệu tập cũng như thông báo của Tòa án. Như vậy anh Phạm Xuân V trốn tránh gây khó khăn cho Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân đã lập biên bản về việc không hòa giải được đối với vụ việc trên. Vào ngày 25 tháng 4 năm 2022, Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân đã mở phiên tòa đưa vụ án ra xét xử, đã niêm yết quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập hợp lệ, nhưng bị đơn Phạm Xuân V vẫn cố tình vắng mặt không có lý do. Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân đã ra quyết định hoãn phiên tòa, niêm yết công khai quyết định hoãn phiên tòa tại nơi cư trú của bị đơn. Tại phiên tòa hôm nay một lần nữa bị đơn Phạm Xuân V vắng mặt không có lý do.

Tại biên bản xác minh nguyên nhân mâu thuẫn tình cảm vợ chồng, UBND thị trấn TX, huyện TX đã xác nhận: Qua xác minh tại địa phương thì anh Phạm Xuân V đang sinh sống tại khu X, thị trấn TX, huyện TX. Khoảng hơn một năm nay, khu X được biết vợ chồng anh V, chị Th phát sinh mâu thuẫn và chị Th đã bỏ nhà về nhà mẹ đẻ để sinh sống. Nguyên nhân của việc phát sinh mâu thuẫn tình cảm vợ chồng thì là do tính tình vợ chồng không hợp, nhiều mâu thuẫn, xung đột trong cuộc sống, địa phương đã khuyên nhủ, động viên nhưng tình cảm vợ chồng không cải thiện được. Vợ chồng có 02 con chung hiện đang ở với chị Th, đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án.

*Ý kiến của đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Xuân tham gia phiên tòa phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

- Về tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 BLTTDS; Việc xác định tư cách tham gia tố tụng đúng quy định tại Điều 68 BLTTDS; Việc xác minh thu thập, giao nộp tài liệu chứng cứ đúng quy định và vụ án được giải quyết trong thời hạn luật định. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án không có thiếu sót vi phạm gì;

Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định, bị đơn không chấp hành các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn không hợp tác, không nhận các thông báo, quyết định của Tòa án.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 56,57, 81,82 và 83 Luật hôn nhân gia đình 2014; Điểm b, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn Vũ Thị Th; Giao cháu Phạm Vũ An N cho bị đơn Phạm Xuân V, cháu Phạm An Nh cho nguyên đơn Vũ Thị Th chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung; Buộc nguyên đơn Vũ Thị Th phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả thảo luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

1.1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Vũ Thị Th khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về ly hôn, nuôi con với anh Phạm Xuân V. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình về ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

1.2.Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn Phạm Xuân V có nơi cư trú tại khu X, thị trấn TX, huyện TX, tỉnh Thanh Hóa. Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa có thẩm quyền giải quyết vụ án.

1.3.Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Bị đơn đã được Tòa án niêm yết công khai quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập hợp lệ. Tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Xét thấy sự vắng mặt của bị đơn không thuộc trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn Phạm Xuân V.

Về nội dung:

2.1Về hôn nhân: Nguyên đơn Vũ Thị Th và bị đơn Phạm Xuân V tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 15/7/2017 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Thường Xuân, huyện Thường Xuân, đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính cách không hợp nhau nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 8/2021 đến nay. Chị Th xin ly hôn, anh V không có ý kiến gì. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy về hôn nhân giữa nguyên đơn Vũ Thị Th và bị đơn Phạm Xuân V đời sống chung vợ chồng không có hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, vợ chồng đã sống ly thân gần một năm nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Vì vậy nên chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn Vũ Thị Th là phù hợp với Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

2.2 Về con cái: Xét việc đề nghị yêu cầu nuôi con của chị Th là nguyện vọng chính đáng và phù hợp với quy định của pháp luật. Tại phiên tòa nguyên đơn đề nghị giao cháu Phạm Vũ An N cho bị đơn Phạm Xuân V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; cháu Phạm An Nh do chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục để đảm bảo các điều kiện phát triển bình thường của các cháu cũng như việc sinh hoạt, học tập, vui chơi. Xét điều kiện nuôi dạy, chăm sóc con của nguyên đơn và bị đơn đều có nơi ở và thu nhập ổn định, vì vậy giao cho mỗi người nuôi một cháu lµ hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.

2.3. Về tài sản, công nợ: Tài sản chung, tài sản riêng và công nợ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2.4.Về án phí: Nguyên đơn Vũ Thị Th phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51,56,57, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, 235, 271, 273, 278 và 280 BLTTDS 2015; Điểm a, khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 31/12/2016.

1.Về hôn nhân:

Xử: Cho nguyên đơn Vũ Thị Th được ly hôn với bị đơn Phạm Xuân V.

2.Về con cái:

Giao cháu Phạm An Nh cho nguyên đơn Vũ Thị Th và giao cháu Phạm Vũ An N cho bị đơn Phạm Xuân V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu An N, cháu An Nh đến tuổi trưởng thành(đủ 18 tuổi). Nguyên đơn, bị đơn không phải cấp dưỡng nuôi con chung và được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc các con không ai được ngăn cản.

3.Về án phí và các vấn đề khác:

Nguyên đơn Vũ Thị Th phải nộp 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn Vũ Thị Th đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0015252, ngày 08/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thường Xuân, Thanh Hóa. Nguyên đơn Vũ Thị Th đã thực hiện xong nghĩa vụ án phí HNGĐ sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai./.

Cỡ chữ