vanban.org

Bản án 02/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Đặng Thị Kim H được ly hôn với ông Nguyễn Minh T.

Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Giao 01 con chung là cháu Nguyễn Hằng Yến Nh, sinh ngày 01/10/2020cho bà Đặng Thị Kim H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông T do bà H không yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly Hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Đặng Thị Kim H được ly hôn với ông Nguyễn Minh T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LÂMCỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:02/2022/HNGĐ-ST
Ngày:11/01/2022
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LÂM – TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Phƣơng Lan Anh

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Lê Quí Hùng

2/ Bà Nguyễn Thị Bội Hoàn

- Thư ký phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Thanh Trúc - Thư ký tòa án nhân dân huyện Cam Lâm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Ngọc - Kiểm sát viên

Ngày 11tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 111/2021/TLST- HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2021 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/12/2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Kim H, sinh năm: 1992

Địa chỉ: tổ dân TH, phường CT, thành phố CR, tỉnh Khánh Hòa.

(Có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm: 1993

Địa chỉ: VT 1, xã CPT, huyện CL, tỉnh Khánh Hòa.

(Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn bà Đặng Thị Kim H trình bày:

- Về yêu cầu khởi kiện ly hôn: Bà Đặng Thị Kim H và ông Nguyễn Minh T tự nguyện kết hôn với nhau năm 2020; có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã CPT và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 24 ngày 24/7/2020.

Trong quá trình chung sống, sau một thời gian khoảng 4 – 5 tháng thì cả hai bắt đầu nảy sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do ông T không hề quan tâm, chăm sóc vợ con, không chu cấp gì cho bà và con. Ông T cũng thường xuyên nhậu nhẹt, về nhà gây gỗ và đánh đập bà. Không khí gia đình trở nên nặng nề, căng thẳng nên từ tháng 8/2020 bà H đã quay về nhà mẹ đẻ tại CT, thành phố CR sống từ đó cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy bà H yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T để mỗi người có cuộc sống riêng.

- Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Bà Đặng Thị Kim H và ông Nguyễn Minh T có 01 con chung là cháu Nguyễn Hằng Yến Nh, sinh ngày 01/10/2020. Sau khi ly hôn bà H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung theo quy định của luật pháp. Bà yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 3.000.000 đồng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.

Đến ngày 27/10/2021, trong biên bản hòa giải, bà H thay đổi nội dung không yêu cầu ông T phải trợ cấp nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Minh T đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt. Theo biên bản xác minh ngày 01/7/2021 tại Công an xã CPT thì ông Nguyễn Minh T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn VT 1, xã CPT, huyện CL,hiện nay ông T vẫn đang sinh sống tại địa phương, tuy nhiên ông T cố tình không đến Tòa án để giải quyết việc ly hôn nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải được hai bên.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Sau khi xem xét toàn bộ yêu cầu và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: bà Đặng Thị Kim H được ly hôn ông Nguyễn Minh T. Giao con chung dưới 36 tháng tuổi là cháu Nguyễn Hằng Yến Nh cho bà H tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông T do bà H không yêu cầu.

- Về tài sản chung và nợ chung: đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết nội dung này vì bàHải không có yêu cầu.

- Về án phí: Bà Hlà người khởi kiện ly hôn nên phải đóng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghe, công bố ý kiến trình bày của nguyên đơntrong đơn khởi kiện, biên bản ghi lời khai và nghiên cứu các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, đồng thời căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp về ly hôn giữa bà Đặng Thị Kim H và ông Nguyễn Minh T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn bà Đặng Thị Kim H có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa; bị đơn ông Nguyễn Minh T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do. Vì vậy, việc vắng mặt cả nguyên đơn, bị đơn tại phiên tòa đã được xem xét bảo đảm về mặt thủ tục tố tụng, không làm ảnh hưởng đến kết quả giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành tiếp tục xét xử vụ án khi cả bà H và ông T vắng mặt là vẫn đúng quy định của pháp luật tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ hôn nhân:Bà Đặng Thị Kim H và ông Nguyễn Minh T tự nguyện kết hôn với nhau năm 2020; có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Cam Phước Tây và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 24 ngày 24/7/2020, nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Theo đơn khởi kiện và biên bản ghi lời khai bà H trình bày trong quá trình chung sống, sau một thời gian khoảng 4 – 5 tháng thì cả hai bắt đầu nảy sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do ông T không hề quan tâm, chăm sóc vợ con, không chu cấp gì cho bà và con. Ông T cũng thường xuyên nhậu nhẹt, về nhà gây gổ và đánh đập bà. Không khí gia đình trở nên nặng nề, căng thẳng nên từ tháng 8/2020 bà H đã quay về nhà mẹ đẻ tại Cam Thuận, thành phố Cam Ranh sống từ đó cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy bà H yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T để mỗi người có cuộc sống riêng.

Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bàHải và ông T là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Cả hai hiện đang sống ly thân nhau vì bà H đã ôm con bỏ về nhà mẹ đẻ ở Cam Ranh để sống từ đó cho đến nay. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bàĐặng Thị Kim H được ly hôn với ông Nguyễn Minh T.

Về nuôi con và cấp dƣỡng nuôi con: Bà Đặng Thị Kim H và ông Nguyễn Minh T có 01 con chung là cháu Nguyễn Hằng Yến Nh, sinh ngày 01/10/2020. Sau khi ly hôn bà H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung theo quy định của pháp luật. Bà không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, lời trình bày của bà H là hoàn toàn có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật, cháu Nh vẫn còn trong độ tuổi mà pháp luật quy định phải giao con cho mẹ (con dưới 36 tháng tuổi). Hơn nữa, cháu đã được mẹ là bà H đưa về thành phố CR sống ổn định từ đó cho đến nay. Do đó để đảm bảo sự phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần của cháu, cần giao cháu Nguyễn Hằng Yến Nh cho mẹ là bà Đặng Thị Kim H tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông T do bà H không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, vì lợi ích của con,khi cần thiết các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

Về chia tài sản khi ly hôn và nợ chung:Quá trình giải quyết vụ án bà H không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết phần này, nếu sau này các đương sự có đơn yêu cầu thì sẽ được giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác.

Về án phí:Bà Đặng Thị Kim H là người khởi kiện ly hôn nên phải nộp300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

- Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mực thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Đặng Thị Kim H được ly hôn với ông Nguyễn Minh T.

2. Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Giao 01 con chung là cháu Nguyễn Hằng Yến Nh, sinh ngày 01/10/2020cho bà Đặng Thị Kim H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng sau khi ly hôn.

Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông T do bà H không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, vì lợi ích của con,khi cần thiết các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

3. Về chia tài sản khi ly hôn và nợ chung: Không xem xét về phần tài sản chung và nợ chung của vợ chồng bà H, ông T; nếu sau này các đương sự trong vụ án Hôn nhân gia đình có đơn yêu cầu thì sẽ được giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.

4. Về án phí:Bà Đặng Thị Kim H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm; tuy nhiên phần án phí của bà H được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2021/0008736ngày 06/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lâm nênbà Hđã nộp đủ toàn bộ án phí.

5. Về quyền kháng cáo:Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ