vanban.org

Bản án 02/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND tỉnh Hòa Bình Tuyên án 28/04/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Vũ Thị Y.

Cho chị Vũ Thị Y được ly hôn anh Bùi Anh H. Về con chung: Giao cháu Bùi Anh D, sinh ngày 09-3-2016 cho anh Bùi Anh H, được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục; Hai bên được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở và được quyền thay đổi nuôi con theo quy định của pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Thị Y - Bùi Anh H"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Vũ Thị Y.
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 28-4-2022
V/v: Kiện xin ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Mạnh Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân

Ông Nguyễn Văn Cử.

Bà Nguyễn Thị Nhung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Nga - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình: Ông Lê Quý Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 03/2022/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2022 về việc “ Kiện xin ly hôn”.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 02/2022/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Y – sinh năm 1992.

Trú tại: Tổ 14, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.

Nơi ở hiện nay: JAPAN - Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Bùi Anh H – sinh năm 1988

Trú tại: xóm B, xã B, huyện Y, tỉnh Hòa Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn đề ngày 18/02/2022, bản tự khai và đơn xin giải quyết vắng mặt, nguyên đơn chị Vũ Thị Y trình bày:

Chị và anh Bùi Anh H kết hôn ngày 01/02/2016, trước khi kết hôn có thời gian được tự do tìm hiểu, trên cơ sở tự nguyện và được sự nhất trí của hai bên gia đình, tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện S, tỉnh S. Sau khi kết hôn thời gian đầu hai vợ chồng chung sống hạnh phúc. Trong quá trình sinh sống hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, hay cãi vã lẫn nhau. Được một thời gian ngắn chị bỏ về nhà mẹ đẻ và đi xuất khẩu lao động tại nước ngoài (JAPAN). Từ khi đi xuất khẩu lao động cho đến nay, do tình hình dịch bệnh nên chị không về thăm và chăm sóc con cái, hai vợ chồng đã sống ly thân, xa nhau thời gian dài và không còn quan tâm đến nhau. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn vắng mặt với anh Bùi Anh H.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Bùi Anh D, sinh ngày 09-3-2016, hiện đang ở với bố. Khi ly hôn chị đồng ý để cho anh H được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu và không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Bùi Anh H trình bày:

Anh đồng tình với bản tự khai của chị Y về phần kết hôn, con chung và tài sản chung. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc, sau đó thường xuyên phát sinh mâu thuẫn bất đồng quan điểm sống, chị Y tự ý bỏ về nhà mẹ đẻ tại S. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên chị Y có đi xuất khẩu lao động tại nước ngoài (JAPAN) từ khi đi xuất khẩu lao động cho đến nay, chị Y không liên lạc về nhà, không thăm hỏi hay gửi tiền về chăm sóc con cái. Nay chị Y xin ly hôn thì tôi đồng ý.

Về con chung: Vợ chồng chúng tôi có 01 con chung là cháu Bùi Anh D, sinh ngày 09-3-2016. Kể từ khi chị Y đi xuất khẩu lao động, tôi chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục cháu. Khi ly hôn tôi xin được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu.và chưa yêu cầu chị Y phải đóng góp phí tổn nuôi con chung.

Về tài sản, công nợ chung: Chúng tôi không có tài sản gì, không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ gì, nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi xét xử. Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đây là vụ án kiện xin ly hôn có yếu tố nước ngoài, Tòa án đã thu thập đầy đủ tài liệu chứng cứ, nguyên đơn chị Vũ Thị Y đi xuất khẩu lao động tại nước ngoài, do dịch bệnh không về nước được, nên có đơn xin ly hôn, có bản tự khai và có đơn xin xét xử vắng mặt, hai người đã sống ly thân thời gian dài. Xét việc mâu thuẫn vợ chồng là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn, cho chị Vũ Thị Y được ly hôn anh Bùi Anh H.

Về con chung; Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, căn cứ theo Điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân gia đình, giao cháu Bùi Anh D cho anh Bùi Anh H, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục. Khi nào có thay đổi nuôi con chung thì giải quyết bằng một vụ án khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn xin ly hôn, có địa chỉ tại thành phố H và đang đi xuất khẩu lao động tại nước ngoài. Quan hệ pháp luật tranh chấp "Ly hôn" thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tạ xã B, huyện Y, tỉnh Hòa Bình, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình, thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

[2] Xét đơn xin ly hôn của chị Vũ Thị Y;

Hội đồng xét xử nhận thấy: Chị và anh Bùi Anh H kết hôn ngày 01/02/2016, trước khi kết hôn có thời gian được tự do tìm hiểu, trên cơ sở tự nguyện và được sự nhất trí của hai bên gia đình, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện S, tỉnh S. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận, Sau khi kết hôn thời gian đầu hai vợ chồng chung sống hạnh phúc. Trong quá trình sinh sống hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, hay cãi vã lẫn nhau. Được một thời gian ngắn chị Y bỏ về nhà bố mẹ đẻ và đi xuát khẩu lao động tại nước ngoài (JAPAN). Từ khi đi xuất khảu lao động cho đến nay chị Y không hỏi thăm và gửi tiền về để anh chăm sóc con cái. Mặc dù anh cố gắng chờ đợi nhưng không có kết quả, hai vợ chồng đã sống ly thân, xa nhau thời gian dài và không còn quan tâm đến nhau.

Xét chị Vũ Thị Y do dịch bệnh không về nước để giải quyết việc ly hôn, đã có đơn xin ly hôn, bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị Y là đúng theo quy định của pháp luật.

Xét thấy thấy mâu thuẫn gia đình trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu giải quyết cho chị Vũ Thị Y được ly hôn với anh Bùi Anh H.

Về con chung: Vợ chồng anh chị có 01 con chung là cháu Bùi Anh D, sinh ngày 09-03-2016. Khi ly hôn chị đồng ý để cho anh Bùi Anh H được chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục cháu. Xét từ khi chị Y đi xuất khẩu lao động cháu Bùi Anh D vẫn đang ở với bố, do vậy cần giao cháu Bùi Anh D cho anh Bùi Anh H nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là có căn cứ, anh H chưa yêu cầu chị Y phải đóng góp phí tổn nuôi con chung.

Do vậy ý kiến của đại diện viện kiểm sát là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản chung, công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: chị Vũ Thị Y phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 51 56, 81, 82, 83, 84, 127 của Luật Hôn nhân gia đình. Nghị quyết 326/2017/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Vũ Thị Y.

Cho chị Vũ Thị Y được ly hôn anh Bùi Anh H.

Về con chung: Giao cháu Bùi Anh D, sinh ngày 09-3-2016 cho anh Bùi Anh H, được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục; Hai bên được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở và được quyền thay đổi nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về án phí: chị Vũ Thị Y phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0001001 ngày 09-3-2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hòa Bình.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt được quyền kháng cáo; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ