- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - T"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam về việc “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”.
- Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 474 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2022/DS-ST Ngày: 17-01-2022 V/v Tranh chấp về hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Vũ Thị Hảo
- Bà Trần Thị Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thanh Hải – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Thái Thị Lan – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2022 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 82/2020/TLST-DS ngày 01 tháng 6 năm 2020 về “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2021/QĐXX-ST ngày 06 tháng 12 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 817/2021/DSST-QĐ ngày 29/12/2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam;
Địa chỉ: 198, đường T, phường L, quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nghiêm Xuân Thành; sinh năm 1969 – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Thành N – Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Đông Đồng Nai (Theo văn bản ủy quyền số: 369/UQ-VCB-PC ký ngày 06/12/2019);
Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Giang Công M – Chức vụ: Trưởng phòng giao dịch Trảng Bom; Địa chỉ: khu phố 5, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Theo văn bản ủy quyền ngày 25/9/2020);
- Bị đơn: Ông Phan Văn T, sinh năm 1984;
Nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
Nơi làm việc: Công ty Cổ phần gạch men P, chi nhánh Đồng Nai – Cụm Công nghiệp vật liệu xây dựng T, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Địa chỉ: xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
(Ông M có đơn xin xét xử vắng mặt, ông T vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, lời khai có tại hồ sơ và phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn ông Giang Công M trình bày:
Vào ngày 11/11/2014, Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) cho ông Phan Văn T vay số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) tại Hợp đồng tín dụng số 2014612/CBCNVDP, mục đích vay: tiêu dùng, thời hạn vay: 36 tháng; lãi suất vay 11%/năm tại thời điểm nhận nợ và thay đổi vào ngày làm việc đầu tiên của tháng đầu quý; phương thức trả nợ: gốc và lãi vào ngày 10 hàng tháng; hình thức bảo đảm: tín chấp. Ngày 11/11/2014 Ngân hàng đã giải ngân cho ông T bằng hình thức chuyển khoản, ông T đã xác nhận tại “Giấy nhận nợ” số 01 ngày 11/11/2014. Ông T đã trả được số tiền 39.426.920 đồng, trong đó: 32.564.219 đồng tiền gốc, 6.862.701 đồng tiền lãi.
Tính từ ngày 12/6/2017 đến ngày 17/01/2022 ông Phan Văn T còn nợ số tiền nợ gốc là 7.435.781 đồng, tiền lãi trong hạn là 4.382.066 đồng, tiền lãi quá hạn là 1.208.831đồng. Tổng cộng là 13.026.678 đồng (Mười ba triệu không trăm hai mươi sáu nghìn sáu trăm bảy mươi tám đồng).
Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tuyên buộc ông Phan Văn T thanh toán số tiền nợ gốc là 7.435.781 đồng (Bảy triệu bốn trăm ba mươi lăm nghìn bảy trăm tám mươi mốt đồng), tiền lãi trong hạn là 4.382.066 đồng (Bốn triệu ba trăm tám mươi hai nghìn không trăm sáu mươi sáu đồng), tiền lãi quá hạn là 1.208.831đồng (Một triệu hai trăm linh tám nghìn tám trăm ba mươi mốt đồng). Tổng cộng là 13.026.678 đồng (Mười ba triệu không trăm hai mươi sáu nghìn sáu trăm bảy mươi tám đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng đã ký cho đến ngày trả hết nợ.
* Bị đơn ông Phan Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, thông báo giao nộp tài liệu, chứng cứ nhưng không thực hiện và vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên không có lời khai.
* Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu tại phiên tòa sơ thẩm:
- Về thủ tục tố tụng:
+ Về quan hệ pháp luật và tư cách đương sự: Tòa án xác định là đúng và đầy đủ;
+ Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền;
+ Về thời hạn giải quyết vụ án: Tòa án giải quyết trong hạn luật định;
+ Về thu thập chứng cứ: Tòa án thu thập chứng cứ đầu đủ và đúng quy định của pháp luật.
+ Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và đương sự: chấp hành và thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Phan Văn T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam số tiền 13.026.678 đồng (Mười ba triệu không trăm hai mươi sáu nghìn sáu trăm bảy mươi tám đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng đã ký cho đến ngày trả hết nợ. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về tố tụng:
Thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật: Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam khởi kiện yêu cầu ông Phan Văn T phải trả số tiền 13.026.678 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 2014612/CBCNVDP, ông T có địa chỉ tại: Ấp Cây Xoài, xã Tân An, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai; Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai và xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”.
Ông Giang Công M có đơn xin xét xử vắng mặt; ông Phan Văn T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không có đơn xin vắng mặt, căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.
Về thời hiệu khởi kiện: Các đương sự không yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện, căn cứ Điều 184 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử không áp dụng thời hiệu khởi kiện.
* Về nội dung vụ án:
Ông Phan Văn T là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án tống đạt các văn bản theo trình tự tố tụng nhưng không tham gia giải quyết vụ án, cũng không thực hiện nghĩa vụ chứng minh, cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Căn cứ vào khoản 1, khoản 2 và khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử căn cứ vào chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ để giải quyết vụ án.
Về xác lập hợp đồng:
Ngày 11/11/2014, Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Đồng Nai – phòng Giao dịch Trảng Bom cho ông Phan Văn T vay tín dụng số tiền 40.000.000 đồng, thể hiện tại “Hợp đồng cho vay cán bộ nhân viên” số 204612/CBCNVDP, thời hạn vay 36 tháng kể từ ngày bên vay rút vốn lần đầu. Ngân hàng đã giải ngân cho ông Phan Văn T số tiền 40.000.000 đồng vào tài khoản số xxxxxxxxxxxx của ông Phan Văn T. Ông T thừa nhận việc đã nhận số tiền 40.000.000 đồng, thể hiện tại “Giấy nhận nợ” số 01 ngày 11/11/2014 kèm theo Hợp đồng tín dụng số 204612/CBCNVDP ngày 11/11/2014. Theo Giấy nhận nợ thì ngày rút vốn đầu tiên là ngày 11/11/2014.
Về nghĩa vụ trả nợ
Quá trình thực hiện hợp đồng: Ông Phan Văn T đã trả được cho Ngân hàng Thương Mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam số tiền 39.426.920 đồng, trong đó: 32.564.219 đồng tiền gốc, 6.862.701 đồng tiền lãi. Đến ngày 12/6/2017, ông Phan Văn T vi phạm nghĩa vụ trả nợ.
Hai bên có hợp đồng tín dụng, trong quá trình thực hiện hợp đồng ông T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và nợ lãi hàng tháng.
Giao dịch này đã được thực hiện trước khi Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực nên phải áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 để giải quyết. Căn cứ vào Điều 471 và Điều 474 của Bộ luật dân sự năm 2005 thì bên vay phải có nghĩa vụ trả nợ cho bên cho vay khi đến hạn.
Do ông T chưa thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng nên yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận. Kể từ thời điểm vay cho đến ngày xét xử sơ thẩm ông T vẫn chưa thanh toán số nợ gốc cho Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Ngoại thương Việt Nam. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả số tiền nợ gốc 7.435.781 đồng là có cơ sở chấp nhận.
Về nợ lãi:
Theo hợp đồng tín dụng số 204612/CBCNVDP ngày 11/11/2014, Ngân hàng Thương Mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam và ông Phan Văn T thỏa thuận lãi suất cho vay trong hạn 11%/năm tính theo dư nợ thực tế, được điều chỉnh theo thông báo của Ngân hàng vào ngày làm việc đầu tiên của tháng đầu quý; lãi suất nợ quá hạn bằng 130% lãi suất trong hạn, tính trên nợ gốc thực tế quá hạn và thời gian quá hạn, phương thức trả: trả nợ gốc và lãi vào ngày 10 hàng tháng, nếu rơi vào ngày nghỉ thì thu vào ngày làm việc tiếp theo. Theo quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng thì việc thỏa thuận về lãi suất giữa Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Ngoại thương Việt Nam là đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Phan Văn T vi phạm nghĩa vụ thanh toán số tiền lãi. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải có trách nhiệm trả tiền nợ tiền lãi trong hạn là 4.382.066 đồng, tiền lãi quá hạn là 1.208.831đồng là có cơ sở chấp nhận.
Theo Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/8/2016 và công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Do đó, yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam buộc ông Phan Văn T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 204612/CBCNVDP ngày 11/11/2014 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này là có cơ sở để chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên ông Phan Văn T phải chịu tiền án phí sơ thẩm là: 5% x 13.026.678 đồng = 651.334 đồng.
Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.
Ý kiến của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 235, 238, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 471, khoản 1 Điều 474 của Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 688, 689 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Án lệ số 08/2016/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/8/2016 và công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
1. Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam về việc “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”.
Buộc ông Phan Văn T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam số tiền là 13.026.678 (Mười ba triệu không trăm hai mươi sáu nghìn sáu trăm bảy mươi tám) đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Phan Văn T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 204612/CBCNVDP ngày 11/11/2014 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
2. Về án phí: Ông Phan Văn T phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 651.334 (Sáu trăm năm mươi mốt nghìn ba trăm ba mươi ba) đồng.
Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam được nhận lại số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 000359 ngày 10/11/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu.
Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Đồng Nai;
- VKSND huyện Vĩnh Cửu;
- Chi cục THADS huyện Vĩnh Cửu;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, văn phòng.
Nguyễn Thị Hồng Nhung
Hướng dẫn sử dụng mẫu số 52-DS:
Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự. Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Toà án khi xét xử sơ thẩm các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.
Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án sơ thẩm kèm theo:
(1) Nếu là Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi rõ tên Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Toà án nhân dân huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội); nếu là Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi Toà án nhân dân tỉnh (thành phố) đó (ví dụ: Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam).
(2) Ô thứ nhất ghi số bản án, ô thứ hai ghi năm ra bản án, ô thứ ba ghi ký hiệu loại bản án (ví dụ: Nếu là bản án giải quyết tranh chấp về dân sự năm 2017 có số 100 thì ghi: “Số:100/2017/DS-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình năm 2017 có số 108 thì ghi: “Số:108/2017/HNGĐ-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại năm 2017 có số 110 thì ghi: “Số:110/2017/KDTM-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về lao động năm 2017 có số 115 thì ghi: “Số:115/2017/LĐ-ST”).
(3) Ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày.
(4) Ghi quan hệ tranh chấp mà Tòa án giải quyết: Cần xác định tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết được quy định tại Điều, khoản nào của Bộ luật tố tụng dân sự, để ghi vào phần trích yếu của bản án (ví dụ: Tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết là tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân được quy định tại khoản 1 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự thì ghi: “tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân”).
(5) Ghi như hướng dẫn tại điểm (1).
(6) Nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà, bỏ dòng “Thẩm phán...”, đối với Hội thẩm nhân dân chỉ ghi họ tên của hai Hội thẩm nhân dân; nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân. Cần chú ý là không ghi chức vụ của Thẩm phán; chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân.
(7) Ghi họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).
(8) Nếu có Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên toà thì ghi như hướng dẫn tại điểm (1) song đổi các chữ “Toà án nhân dân” thành “Viện kiểm sát nhân dân”.
(9) Trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ “Trong các” (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi “Trong các ngày” (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi: “Từ ngày đến ngày” (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).
(10) Nếu xét xử kín thì thay cụm từ “công khai” bằng từ “kín”.
(11) Ô thứ nhất ghi số thụ lý, ô thứ hai ghi năm thụ lý và ô thứ ba nếu là tranh chấp về dân sự thì ghi “DS”; nếu là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thì ghi “HNGĐ”; nếu là tranh chấp về kinh doanh, thương mại thì ghi “KDTM”; nếu là tranh chấp về lao động thì ghi “LĐ” (ví dụ: số 18/2017/TLST-HNGĐ).
(12) Ghi như hướng dẫn tại điểm (4).
(13) Nguyên đơn là cá nhân thì ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên). Nguyên đơn là cơ quan, tổ chức thì ghi tên cơ quan, tổ chức và địa chỉ của cơ quan, tổ chức đó.
(14) Chỉ ghi khi có người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và ghi họ tên, địa chỉ cư trú; ghi rõ là người đại diện theo pháp luật hay là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn; nếu là người đại diện theo pháp luật thì cần ghi chú trong ngoặc đơn quan hệ giữa người đó với nguyên đơn; nếu là người đại diện theo uỷ quyền thì cần ghi chú trong ngoặc đơn: “văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...”.
Ví dụ 1: Ông Nguyễn Văn A trú tại... là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn (Giám đốc Công ty TNHH Thắng Lợi).
Ví dụ 2: Bà Lê Thị B trú tại... là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn (Văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...).
(15) Chỉ ghi khi có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là Luật sư thì ghi là Luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào); nếu có nhiều nguyên đơn thì ghi cụ thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn nào.
(16) và (19) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (13).
(17) và (20) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (14).
(18) và (21) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (15).
(22) Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên).
(23) Ghi họ tên, chức danh, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú).
(24) Ghi họ tên, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú).
(25) Trong phần này ghi rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, của cơ quan, tổ chức, cá nhân; yêu cầu phản tố, đề nghị của bị đơn; yêu cầu độc lập, đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; ý kiến của Viện kiểm sát; ghi ngắn gọn, đầy đủ các tài liệu, chứng cứ, tình tiết của vụ án; ghi rõ các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh, các tình tiết mà các bên đã thống nhất, không thống nhất; đối với các tình tiết của vụ án mà các bên không thống nhất thì phải ghi rõ lý lẽ, lập luận của từng bên đương sự.
(26) Ghi nhận định của Tòa án về những vấn đề cần phải giải quyết trong vụ án (về áp dụng pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung). Tòa án phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích, đánh giá, nhận định đầy đủ, khách quan về chứng cứ và những tình tiết của vụ án; phân tích, viện dẫn những căn cứ pháp luật, án lệ (nếu có) để chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu, đề nghị của đương sự; yêu cầu, đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (nếu có); yêu cầu, đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát (nếu có); giải quyết các vấn đề khác có liên quan. Nếu vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật tố tụng dân sự thì tùy từng trường hợp mà Tòa án phân tích, lập luận về việc áp dụng tập quán, tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng.
Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ tự trong dấu [ ].
(27) Tùy từng trường hợp mà ghi rõ các căn cứ pháp luật để ra quyết định.
(28) Ghi các quyết định của Tòa án về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo đối với bản án; trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì phải ghi rõ quyết định đó. Đối với trường hợp xét xử sơ thẩm lại vụ án mà bản án, quyết định đã bị hủy một phần hoặc toàn bộ theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm thì ghi vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành (nếu có) theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng bị hủy; trường hợp có quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự thì phải ghi rõ nội dung về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án.
(29) Phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi rõ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát thì ghi như sau:
| Nơi nhận: Ghi những nơi mà Toà án cấp sơ thẩm phải giao hoặc gửi bản án theo quy định tại Điều 269 của Bộ luật tố tụng dân sự và những nơi cần lưu bản án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |